Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghề nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Công việc IT: được mô tả thú vị qua việc thay cái bóng đèn hỏng

Bố các bạn Tây lông, các bạn ý lấy mỗi chuyện thay cái bóng đèn hỏng thôi mà mô tả được đủ các loại công việc IT, hài vãi ra. Mềnh tự nhận là "Front-End Developer", còn bạn?

Nguồn: IT Jobs Explained With A Broken Lightbulb

Làm lập trình viên hay không làm lập trình viên?

Loạng quạng qua bờ lốc của một chú trên Yahoo 360 thấy cái bài viết này, ngứa tay copy về đây phán "náo" một tý.

Hợ, làm gì có cái nghề nào gọi là "nhàn và nhiều tiền", đứng núi này trông núi nọ thì đến chết vẫn chưa hiểu chuyện gì cả.

Phán thế thôi, copy về đây để đờ cờ (đ/c) nào lạc qua đọc tý chơi



Được nghỉ 3 ngày nên ngồi suy ngẫm về cái nghiệp lập trình viên mà mình đang theo đuổi. Image
Tường thuật từ một buổi ăn trưa
Một dịp hiếm hoi tôi được ngồi ăn trưa với mấy đứa bạn học chung hồi đại học. Cả bọn đều đang làm cho các công ty phần mềm lớn, ngót ngét cũng được hơn 2 năm rồi.

- Dạo này bên mày "cày" dữ không?
- Cũng như trước. Bị bên kia nó dí giữ quá.
.......
- Bây giờ tao nhận ra rằng đi làm phần mềm là một sai lầm. Tưởng rằng lương cao chứ thật ra chẳng bằng ai. Tao thấy mấy đứa bạn đi làm mấy ngành khác sướng hơn nhiều. Mấy đứa đi làm sales giàu quá trời.
- Còn mấy đứa bạn tao đi làm bên ngành ngân hàng cũng đã lắm.
- Tính ra thì học y hoặc dược hơi cực nhưng bây giờ đứa nào cũng ngon lành.

Câu chuyện tiếp tục với đề tài liên quan đến các ngành nghề khác. Ở thời buổi này thì cả bọn thấy làm nghế gì cũng sướng hết, vừa có thu nhập cao lại vừa lý thú, trừ cái nghề lập trình viên mà cả bọn đang theo đuổi!

Hỡi ôi! Cái nắng đổ lửa của Sài Gòn cũng không làm tôi choáng bằng nỗi băn khoăn về cái nghề mà mình đang theo đuổi. Ai cũng đổ xô đi học công nghệ thông tin, ai cũng nói ngành này là "hot" nhất, triển vọng nhất, tốt nhất, và sướng nhất. Image Thế mà ngay ở đây, những kỹ sư phần mềm mà kinh nghiệm làm việc còn ít hơn cả "kinh nghiệm" ngồi trên ghế giảng đường Đại học, với bao ước mơ, hoài bão và nhiệt huyết, lại có cái nhìn thực tế thật phũ phàng vậy.

Ok. Phần "tâm trạng" mở đầu như vậy là đủ rồi. Bây giờ tôi thử liệt kê những cái "nghĩ quẩn" của mình về nghề lập trình viên (hay là kỹ sư phần mềm, hay là chuyên viên phát triển phần mềm, hay là thợ code, hay là công nhân kỹ thuật cao, hay là những chuyên viết chat Yahoo! lén,...)

1) Làm phần mềm không có thu nhập cao
Đây là thực thế phũ phàng nhất đang đè nặng lên đầu óc của các lập trình viên chúng ta, nặng đến nỗi đôi lúc có người không thể đè nỗi phím Shift trên bàn phím. Image
Vâng, theo tất cả các khảo sát về tiền lương thì làm việc trong ngành CNTT sẽ có mức lương cao nhất.

Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Mức lương khởi đầu thì cao thật, nhưng sau đó thì... Làm sao ta có thể toàn tâm toàn ý fix bug được nếu như biết được đứa bạn cấp III của mình bây giờ đang làm cho các tập đoàn kinh tế nước ngoài với mức thu nhập trên 10 triệu. Làm sao không thể nóng đầu được nếu như biết được lúc mới ra trường mức lương của nó chỉ bằng phân nửa của ta. Image
Vâng, lương khởi điểm thì cao nhưng tăng không nhanh. Có tăng thì cũng tăng không nhiều. Có nơi chịu tăng nhiều thì không có thưởng. Ngoài những cái đó thì chẳng còn thu nhập nào khác, cũng ít có cơ hội để "đánh lẻ" bên ngoài vì công việc chính đã quá bận rộn rồi.

2) Làm phần mềm lại rất cựcCái cực đầu tiên là áp lực thời gian. Điều này thì không cần phải nói nhiều rồi. Image
Bây giờ nói đến môi trường làm việc. Nếu ai chưa từng làm phần mềm thì có thể hình dung thế này.
Thử tưởng tượng bạn bước vào một khu nhà rộng lớn, rất yên tĩnh và hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Bạn bước đến cửa ra vào và biết rằng ở đây những người bảo vệ làm việc 24 giời/ngày, suốt 365 ngày/năm. Bước vào bên trong nữa, bạn sẽ thấy ở đấy không khí rất âm u, hoàn toàn không có ánh sáng tự nhiên. Cũng dễ hiểu thôi, vì mọi nơi ở đây đều không có cửa sổ. Nếu có cửa sổ thì cũng luôn bị đóng kín lại.

Bạn bước vào sâu hơn nữa và thấy các căn phòng được ngăn ra, bên trong từng căn phòng lại được ngăn ra thành từng buồng nhỏ hơn nữa. Mỗi buồng đều có diện tích như nhau, rất chật hẹp, và được bài trí, trang bị vật dụng giống hệt nhau. Trong đó có đặt ít nhất một bộ máy vi tính, nhưng vì diện tích không gian quá nhỏ nên nó chiếm gần hết khoảng không, chỉ còn lại vừa đủ cho bạn ngồi vào đó. Bạn sẽ không thể đi lại thoải mái được, không thể nằm ra, thậm chí xoảy trở vận động cũng khó khăn vì quá chật hẹp.

À, bạn cũng phải đeo một cái thẻ có ghi một mã số trên túi áo. Bạn sẽ nhận ra rằng mọi người ở đây cũng đều đeo thẻ có mã số như vậy. Và bạn chỉ có thể tự do trong khoảng không gian chật hẹp của mình; bạn không được tự do đi sang khu vực khác, thậm chí không được sang buồng bên cạnh và đụng đến bất kỳ vật dụng gì ở đó.

Chưa hết, bạn không được làm ồn và ảnh hưởng, dù nhỏ nhất, đến những buồng xung quanh.

Và mỗi ngày sẽ có một người có chức vụ ở đây (tạm gọi là đốc công) đến giao cho bạn một số nhiệm vụ phải hoàn thành. Bạn sẽ làm việc trong buồng của mình, với những dụng cụ cung cấp sẵn. Không như những công việc ở thế giới bên ngoài, ở đây họ thực thi chế độ làm việc "tự do giờ giấc". Điều đó có nghĩa là gì? Điều đó có nghĩa là có những người ở cấp cao hơn nữa giao cho những viên đốc công các nhiệm vụ, và định các nhiệm vụ đó theo đơn vị thời gian là ngày, tuần, hoặc tháng. Đến phiên các đốc công này sẽ chia nhỏ các nhiệm vụ đó ra rồi giao lại cho những người như bạn. Điều kỳ lạ mới xảy ra ở đây. Cái mà viên đốc công nhận là một công việc cần n ngày, nhưng vì bạn được quản lý theo chế độ "tự do giờ giấc", cho nên cái gọi là n ngày đó hoàn toàn không có ý nghĩa đối với bạn. Bạn có thể phải bỏ ra n nhân với 8 giờ để hoàn thành nó, hoặc có thể phải cần đến n nhân với 12 giờ, hoặc n nhân với 18 giờ, hoặc là (n+x+y+z) nhân với 18 giờ. Cái mà viên đốc công cần ở bạn là kết quả cuối cùng.

Được rồi. Tôi tạm dừng ở đây để hỏi bạn một câu:
Bạn nghĩ xem mình đang ở đâu?
Tôi tin rằng chín trên mười người được hỏi sẽ có cùng một câu trả lời: đó là cái nhà tù. Nơi mà người ta tách biệt mọi người ra riêng rẽ; nơi mà hoạt động suốt ngày, suốt đêm, suốt năm; nơi mà người ta nhét thật nhiều người vào ở theo nguyên tắc tối ưu hóa tối đa về diện tích sử dụng và sẵn sàng y sinh mọi yếu tố khác; nơi mà người ta chỉ quan tâm đến công việc có được hoàn thành hay không, chứ không cần chú ý đến chất lượng và thời gian bỏ ra; và là nơi mà với tất cả sự hy sinh và chịu đựng như vậy, những người bỏ ra gần hết thời gian của họ ở đó sẽ chỉ được tưởng thưởng rất ít; và việc tưởng thưởng sẽ phải đợi cho đến khi xong nhiệm vụ, hoặc đến một ngày cố định nào đó trong năm (gọi là ngày ân xá, hay còn gọi là đợt performance appraisal) - (hãy nhớ đến cách mà ba mẹ tưởng thưởng cho bạn: trước, trong khi, và sau khi làm xong việc đều được cả, và thưởng một cách vô điều kiện, nếu bạn đậu đại học vào tháng 8 thì ba mẹ không bao giờ phải đợi đến tháng 12 mới thưởng cho bạn, thậm chí ngay từ tháng 5, tháng 6 cũng có thể khích lệ cho bạn rồi; bây giờ hãy so sanh với cách mà nhà tù trên thưởng cho bạn Image Bạn thhích cái nào hơn? Image
Nhưng ngoài chín người đó vẫn còn một người có câu trả lời hoàn tòan khác: nơi đây là một công ty phần mềm. Người đó không ai khác là một lập trình viên. Image

3) Nghề lập trình chẳng giúp gì cho gia đình được
Người Việt mình đi làm ngoài chuyện kiếm tiền là mục tiêu đầu tiên, còn sau đó thì muốn có thể "giúp đỡ" cho gia đình, họ hàng vào những dịp quan trọng. Ví dụ: chồng của con của em ruột của bà ngoại của tôi làm một chức lớn trong ngành hàng hải ở ngoài Hà Nội, nên gia đình tôi có "vấn đề" gì về chuyển hàng hóa đi nơi khác là OK liền Image; hoặc nếu như chị họ của chị dâu của anh họ xa của bạn làm ở phòng tín dụng ngân hàng, bạn sẽ dễ dàng vay tiền để mua nhà hơn; hoặc là bạn học cũ hồi cấp II của mẹ tôi có một người bạn thân có người em gái ruột làm ở bộ phận Răng - Hàm - Mặt bệnh viện Chợ Rẫy, nên khi đứa cháu trai của anh rể của tôi cần đi nhổ một cái răng sâu, chắc chắn nó sẽ được ưu tiên vào trước mà không phải đợi lâu; ngoài ra, cháu bé này khi xin vào lớp 1 cũng rất dễ dàng vì một người họ hàng xa ở ngoài Bắc của tôi là bạn thời chiến đấu với vợ của ông hiệu trường của trường cấp I trọng điểm trong khu vực. Image
Vậy, tôi có thêm một câu hỏi dành cho bạn:
Tính từ lúc đi làm lập trình viên đến giờ, hãy kể ra một lần nào đó mà gia đình hay họ hàng của bạn đã "nhờ vả" bạn được việc gì đó?
Tôi tin rằng phần lớn các lập trình viên đều không trả lời được câu hỏi này.

Vậy một câu hỏi dễ hơn:
Hãy nhìn xung quanh trong công ty phần mềm mà bạn đang làm, kể cả những người có chức vụ và thâm niên cao nhất, bạn có thấy họ "giúp đỡ" được cho gia đình việc gì chưa?
Hầu hết các lập trình viên cũng không thể trả lời được câu hỏi này.

Bởi vì khi bạn dành gần hết thời gian trong ngày của mình ngồi trước máy vi tính để viết chương trình, bạn sẽ chẳng có được một "lợi thế" nào khác trong cuộc sống, ngay trước mắt và về sau này. Thậm chí một người bạn của tôi đi làm marketing cho tập đoàn hóa mỹ phẩm, thoạt nhìn cũng chẳng có "ưu thế" gì đặc biệt, nhưng thật ra hằng tháng cũng được công ty cho nào là dầu gội đầu, sửa tắm, kem đánh răng, sản phẩm riêng dành cho chi em phụ nữ Image,... hoàn toàn miễn phí. Ông bác làm bảo vệ kiêm soát vé ở sân vận động thì thỉnh thoảng đem được nhiều vé mời về cho gia đình. Người bạn khác làm kiến trúc sư thì có thể vẽ nhà dùm tôi với giá hữu nghị mà chất lượng thật bảo đảm. Còn bạn, bạn có thể đem được cái gì về? Đem cái chương trình mà ngay cả bạn dù viết ra nó cũng không hình dung người ta sẽ sử dụng ra sao? Hay là giúp đỡ họ hàng mình khi họ cần fix một vài cái bug trong một cái phần mềm nào đó. Image Thậm chí, một số bạn của tôi, đi du học lên cao để chuyên tâm làm nghiên cứu, thoạt nhìn thì có vẻ "vô tích sự" đối với gia đình, nhưng ngẫm lại thì cũng đem về nhà được cái danh là "ông tiến sĩ", "ông thạc sĩ". Còn nếu bạn đi làm lập trình viên, dù có được ra nước ngoài đi công tác, thì bà hàng xóm bên cạnh nhà cũng chỉ biết rằng: "thằng đó nó đi xuất khẩu lao động". Image

4) Làm phần mềm thì sẽ ít cơ hội được giao tiếp với bên ngoài

Bởi vì bạn phải dành gần hết thời gian trong cuộc đời của mình trong một không gian chật hẹp, với phía trước là làm màn hình vi tính, hai bên trái và phải là hai vách ngăn, còn ngay phía sau lại là một lập trình viên khác cũng đang ngồi trong thế tù túng giống bạn. Đấy, thế giới của bạn hạn hẹp như thế. Bạn rời mắt khỏi màn hình, nhìn ra xa xăm, và chẳng phải đợi lâu khi mắt của bạn bị dội ngay lại bởi bức tường trước mặt. Lần cuối cùng mà bạn thấy ánh sáng mặt trời khi đang làm việc là khi nào? Phần lớn những người không bao giờ hình dung nổi mình có thể sống trong một căn nhà không bao giờ có ánh sáng tự nhiên, thế mà họ không nhận ra rằng mình dành hết thời gian ban ngày ở một môi trường khủng khiếp như vậy. Image
Đáng buồn thay, ở trong một mội trường như vậy còn khiến cho bạn ít có cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Bạn sẽ ít khi gặp được những người mà bạn yêu thương, ít có điều kiện làm quen được với những người có thể giúp thay đổi cuộc đời hay sự nghiệp của bạn một cách tích cực. Khi bộ óc của bạn lúc nào cũng chỉ hoạt động trong 2 trạng thái: suy nghĩ logic (lúc bạn làm việc và đi học thêm vào buổi tối) và ngủ, chắc chắn bạn sẽ bị thui chụt đi rất nhiều khả năng cảm nhận cảm xúc của người đang nói chuyện với mình, hay khả năng biểu lộ suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và đầy xúc cảm.

Ồ không, bạn không hề cô đơn trong thế giới riêng của mình, vì bây giờ khoa học kỹ thuật đã phát triển rất cao. Có 2 phát minh vĩ đại có thể giúp cho bạn tiếp xúc với thế giới bên ngoài dù bạn ở bất kỳ đâu, bất kỳ khi nào: điện thoại di động và online messenger (ở VN thì có thể gọi luôn là Yahoo! Messenger, hay IM, vì nó quá phổ biến). Nhưng thật ra thì chúng chỉ làm cho thế giới của người lập trình viên tồi tệ thêm thôi. Hãy nghĩ về người mà bạn yêu thương nhất. Có thể bạn đã quá quen thuộc với khả năng gọi đến người đó, hay là nghe được giọng nói của người đó bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Hãy nghĩ lại thử xem. Thế ngoài giọng nói của người đó, bạn có thể nghe được tâm trạng, đọc được cảm xúc trên khuôn mặt người đó, nghe không chỉ bằng tai mà còn bằng trái tim của mình không? Hãy nghĩ lại thử xem. Có bao giời bạn thấy buồn cười không khi bạn trao đổi với người đó hằng ngày, mà người đó cũng không ở xa bạn, nhưng đến một hôm bạn chợt nhận ra người đó đã ốm đi rất nhiều, có vẻ mệt mỏi hơn rất nhiều, khi bạn có được thời gian hiếm hoi gặp mặt. Hãy thử nghĩ lại xem. Bạn có thể gọi đến người đó bất kỳ khi nào bạn muốn, nhưng liệu điện thoại di động có giúp cho bạn biết đúng lúc nào đó mà người đó cần bạn đến nhất không. Không thể rồi. Chỉ có ánh mắt, cử chỉ, khuôn mặt, hơi thở của người đó mới giúp bạn nghe ra được điều đó. Những tín hiệu này thì còn rất lâu khoa học kỹ thuật mới có thể giúp bạn được.

Hay như tôi đây, trước khi biết đến YM, tôi có thể viết một hơi mười mấy trang giấy, biểu lộ cảm xúc của mình qua từng từ ngữ, chấm câu, ngắt đoạn. Còn bây giờ tôi dùng phần lớn thời gian để suy nghĩ xem chèn cái emotion nào (Image, Image, Image, Image, Image) để thay cho sự bất lực trong cách thể hiện cảm xúc của mình.

Tóm lại, bất kỳ ai cũng cần một cuộc sống cân bằng, vừa có thế giới riêng tư vừa có thể giới bên ngoài. Công việc lập trình viên có thể khiến cho cuộc sống của bạn mất cân bằng. Bạn có thể giải quyết bằng cách chữa trị đúng vào nguyên nhân của vấn đề (sự mất cân bằng), hoặc bạn có thể chọn cách chữa trị vào các triệu chứng (ít giao tiếp, tách biệt với thế giới bên ngoài). Phần lớn lập trình viên đều chọn cách thứ hai, và họ dành thật nhiều thời gian cho điện thoại di động và YM. Bất kỳ ai cũng hiểu điều đơn giản này: không thể tin vào một bác sĩ chỉ biết chữa bệnh bằng cách tìm mọi cách dứt cho được triệu chứng, cái mà bệnh nhân cần là chuẩn đoán tìm ra nguyên nhân và chữa được nguyên nhân của căn bệnh.

Điện thoại di động và YM chỉ giúp lập trình viên chữa trị các triệu chứng. Nó là những phương tiện thông tin tốt, đặc biệt tốt với những ai có cuộc sống cân bằng. Nhưng nó là một thảm họa đối với những ai có cuộc sống không cân bằng. Hầu hết mọi lập trình viên đều có cuộc sống không cân bằng.

5) Làm lập trình viên không "cao cấp" như mọi người nghĩ
Mọi người thương quan niệm ngành CNTT là ngành khoa học trình độ cao, hay là kỹ thuật cao (high-tech). Bởi vậy ai cũng cho rằng làm phần mềm là ngành kỹ thuật cao. Ở đâu sắp mở khu công nghệ cao, ở đấy người ta sẽ tìm cách chào đón các công ty phần mềm vào đầu tiên.

Thực sự không phải như vậy. Làm phần mềm không phải là kỹ thuật cao, ngược lại là khác, nó chính là ngành kỹ thuật thấp (low-tech). Công việc mà tôi đang làm là gì? Đó là chuyển những yêu cầu chưa rõ ràng của khách hàng thành những mã lệnh của máy vi tính. Chấm hết. Chẳng có gì là high-tech cả. Nếu nói thông dịch viên là một ngành kỹ thuật cao thì thật là buồn cười, còn tôi thấy nói rằng làm phần mềm là một ngành kỹ thuật đỉnh cao thì còn buồn cuời hơn.

CNTT là một ngành high-tech, và một khoa học cao cấp. Chính xác.
Nhưng làm phần mềm không phải là CNTT, và càng không phải là high-tech.

Những người nghiên cứu chuyên sâu về các lý thuyết lập trình, về các khoa học cơ bản cho ngành phần mềm là high-tech. Các lĩnh vực về compiler, database, AI (trí tuệ nhân tạo), robot, kể cả về cấu trúc dữ liệu và thuật toán,... đều có thể xem là high-tech. (À, mà hiện nay ở Việt Nam người ta đổ xô học lên cao để đi theo những cái high-tech này, nhưng có thật họ có làm những việc high-tech ở trong đó không thì tôi sẽ có dịp trình bày sau Image).

Còn làm phần mềm lại ở một cấp thấp hơn rất nhiều. Tất cả mọi việc tôi cần làm để chuyển yêu cầu thành các mã lệnh là sử dụng các cấu trúc dữ liệu, các thuật toán đã sẵn có. Chẳng có gì là high-tech cả. Làm phần mềm mà một kỹ nghệ (engineering) chứ không phải là khoa học (science) hay là nghiên cứu (research) gì cả.

Bây giờ trở lại với công việc thực tế của lập trình viên. Các sinh viên ngành CNTT đều mơ mộng về một công việc rất high-tech, trong đó mình có thể tìm ra những thuật toán mạnh mẽ, những lý thuyết mới mẻ, những mô hình độc đáo, sáng tạo. Những chỉ sau 1,2 năm làm việc thì đều vỡ mộng vì thấy rằng công việc thực tế lại quá low-tech, quá "cơ bắp".

Sử dụng lý thuyết sẵn có để làm ra phần mềm chính là kỹ nghệ phần mềm, cái này thì chằng có gì là high-tech theo như cách hiểu của mọi người cả.

Còn nếu muốn tìm ra những lý thuyết mới thì đó là một lĩnh vực hoàn toàn khác. Có thể rất high-tech, nhưng ở VN có lẽ có rất ít công ty tạo điều kiện để làm việc này. Còn ở nước ngoài có thể vào những bộ phần nghiên cứu phát triển ở các công ty lớn mà làm. Mà công việc đó thì cũng không còn được gọi là software engineering nữa.

Vậy thì bị kịch của lập trình viên là gì? Đó là phải làm một công việc rất low-tech trong khi đầu óc lại luôn mơ về một công việc high-tech. Hậu quả: công việc cực khổ, cơ bắp, nhàm chán, và chẳng có gì mới mẻ.

Có thể hiễu nỗi khổ này của lập trình viên bằng cách hình dung một anh chàng lúc nào cũng mơ mộng trở thành một nhà toán học lỗi lạc, trong khi công việc hằng ngày là phải tính toán sổ sách cho một cửa hiệu tạp hóa. Image
ooOoo

Nãy giờ tôi nhìn vào nghề lập trình viên bằng suy nghĩ phiến diện, tiêu cực. Bây giờ thử bỏ chiếc mũ màu đen trên đầu, bỏ cả cặp mắt kính đen Image ra, đội chiếc mũ màu vàng vào, ngước lên bầu trời trên cao, nhìn thấy ánh sáng mặt trời vàng rực. Vậy thử tìm cách nhìn nghề lập trình viên bằng con mắt lạc quan xem thế nào.

Nhưng trước hết thì phải đi uống nước ép trái cây đã.

Tường thuật từ một buổi ăn tối

Lại có một dịp khác tôi có dịp đi ăn tối với các người bạn của một người bạn của tôi. Thành phần thì đủ cả: dược sĩ, nhân viên bán hàng, marketing, giáo viên, người không có việc làm và người chưa có việc làm.

- Biết vậy hồi trước tao học ngành CNTT thì bây giờ sướng rồi.
Tôi giật mình và tiếp tục chăm chú lắng nghe.
- Ừ! - Một người khác nói. - Làm cái đó lương cao mà không phải lo lắng, chạy vạy nhiều.
- Làm ngành của tao nhìn bên ngoài thì đã thật, nhưng nhiều cái mình không thích nhưng cứ phải ráng mà chịu đựng, nhìn bọn làm phần mềm thảnh thơi mà thấy thèm.

À há! Khi mình thay đổi cách nhìn vào cùng một việc, mình sẽ thấy được nhiều điều quan trọng hơn. Vậy thì thử đội mũ vàng vào và nhìn mọi việc một cách tích cực và yêu đời xem.

1) Làm phần mềm thật là vui
Không có nhiều công việc trên đời này tự bản thân nó đem lại niềm vui như khi làm phần mềm.

Bằng chứng thì rất dễ tìm thấy. Hãy đến một công ty phần mềm vào buổi tối, vào ngày cuối tuần, thậm chí là ngày lễ, bạn sẽ thấy có một vài nhân viên vẫn đang ở công ty mày mò tìm hiểu, viết thêm một số phần mềm chẳng liên quan đến công việc, cũng chẳng để kiếm tiền. Họ mày mò chỉ đơn giản vì họ thích, vì nó hay, vì nó vui. Ngoài ra, những công nghệ mới liên quan đến phần mềm, và ngay cả bản thân chiếc máy vi tính, đều có thể đem lại niềm vui và sự thích thú cho người sử dụng. Tôi luôn thấy nhiều nhân viên ở lại công ty để duyệt web, chơi game bằng máy vi tính. Ngoài ra còn có vô số điều lý thú khác để làm với máy vi tính.

Ngược lại, tôi chưa bao giờ thấy một nhân viên kế toán hay tài chính ở lại công ty để "chơi" với mấy cái sổ sách cả. Image Tôi cũng chưa thấy ở nhà máy nào có công nhân tình nguyệnở lại để "quậy" với mấy cái máy mọc cả. Hay những người làm sales, họ sẽ làm gì sau khi hoàn thành công việc? Chẳng có gì trong công việc để "giải trí" cho họ cả. Có lẽ bia, rượu, thuốc lá, đồ nhắm thì vui hơn chăng? Image
Dĩ nhiên cũng có người ở lại để mày mò tìm hiểu thêm về công việc. Nhưng mục đích chủ yếu là để nâng cao kiến thức chuyên môn và thăng tiến. Đây là một phạm trù khác. Cái mà tôi muốn nói đến là niềm vui, là động lực tự nhiên, vô tư.

Tôi còn nhớ khi mình tham gia đội dự tuyển bóng đá ỏ trường hồi cấp II, sau giờ tập luyện mệt nhọc, tất cả chúng tôi đều ở lại để chia làm hai phe đá banh tiếp. Chẳng phải để rèn luyện gì cả, chỉ bởi vì đá banh thì vui, chơi với bạn bè thì rất vui.

Tôi còn quen một anh bạn làm nhân viên trong bệnh viện, chưa hề đi học chính thức về tin học, nhưng khi rảnh rỗi vẫn tự đọc sách để việt máy chương trình bằng VB để phục vụ cho công việc của mình và đồng nghiệp. Hay một ông bác tự mày mò học viết chương trình đơn giản, học thiết kế đồ họa để tự làm web cho mình. Thật là vui và thật là say mê. Họ cũng rất vui nếu tôi tặng họ những cuốn sách hay hay gửi cho họ những chương trình mẫu hữu ích.

Ngược lại, tôi chưa có dịp tặng những cuốn sách kiểu như "Nhập môn kế toán", "Nghệ thuật bán hàng" cho ai đó mà tôi quen, để họ có thêm thú vui tiêu khiển. Image
Một công việc mà bản thân nó có thể đem lại niêm vui, sự thích thú một cách tự nhiên, vô tư, thì đó chắc chắn là một công việc tốt về lâu dài.

2) Làm phần mềm hướng mình đến những mục tiêu tốt đẹp
Ở bất kỳ công ty phần mềm nào, nhân viên luôn được khuyến khích:
  • Nâng cao và cập nhật kiến thức chuyên môn.
  • Rèn luyện ngoại ngữ.
  • Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày,...
  • Chăm chỉ, có trách nhiệm,....
Nếu bạn thực hiện tốt những việc trên, bạn sẽ được đền đáp về nhiều mặt: thu nhập, chức vụ,... Nghĩa là bạn cần đặt những mục tiêu tốt đẹp, và thực hiện những kế hoạch tốt đẹp.

Những công việc khác thì thế nào? Ai cũng hiểu mục tiêu của ngành y là cao đẹp, nhưng để bảo đảm cuộc sống tốt đẹp thì phần lớn bác sĩ phải thực hiện những kế hoạch chẳng tốt đẹp tí nào. Image Bây giờ thì thầy cô giáo cũng phải chạy xô, ép buộc học sinh rất nhiều. Image Thậm chí cũng có những công việc mà cả mục tiêu và kế hoạch đều không cao đẹp tí nào cả. Chẳng hạn mục tiêu cuối cùng là phải rút ruột được khách hàng, chén ép người khác,.... ImageImageImage
Nói dễ hiểu hơn, môi trường làm phần mềm bản thân nó là nơi tạo điều kiện cho mọi người nỗ lực vì những mục tiêu cao đẹp, để mọi bên đều có lợi (Win/Win). Còn nhiều công việc khác, nếu muốn tốt cho mình thì phải bon chen, thủ đoạn, nói chung lợi cho mình thì hại cho người khác và ngược lại (Win/Lose hoặc Lose/Win).

3) Làm phần mềm có thể giúp đem lại thu nhập cao
Lương bổng của kỹ sư phần mềm thì không thể giúp mình làm giàu được. Tính ra lại không bằng những ngành khác. Nhưng thử nghĩ lại xem, có ai làm giàu chỉ bằng đồng lương của mình không? Image

Trước tiên, hãy xem lại mục tiêu của bạn là gì?
  1. Kiếm một công việc có lương cao nhất?
  2. Có được tài chính để mình đạt được những mục tiêu khác trong cuộc sống?
Nếu mục tiêu của bạn là 1, thì làm phần mềm không phải là công việc phù hợp. Mà thật ra cũng khó có một công việc phù hợp với mục tiêu này, vì ngay khi bạn kiếm được một công việc có mức lương cao hơn, bạn sẽ lại thấy (hay nghe đồn thấy) có một công việc có lương cao hơn nữa.

Còn để đạt được mục tiêu thứ 2, bạn cần làm tốt 3 điều:
  1. Biết cách kiếm tiền.
  2. Biết cách tiêu tiền.
  3. Biết cách dùng số tiền còn dư lại để sinh ra nhiều tiền hơn.
Nghĩa là, làm việc và làm giàu là hai việc hoàn toàn khác nhau. Kẻ nào cố gắng nhập chung lại để giải quyết cùng một lúc cuối cùng chỉ thêm thất vọng mà thôi.

Điều tuyệt vời là thế này: làm phần mềm là công việc rất tốt để bạn hoàn thành tốt điều thứ nhất trong 3 việc trên. Tuyệt vời hơn nữa là bạn có thể kiếm tiền một cách lương thiện. Image
Nếu muốn có nhiều tiền hơn, cái mà bạn cần không phải là một công việc mới, mà là học và làm thật tốt hai điều còn lại. Dĩ nhiên, trên đời cũng có thể có công việc có mức lương quá tốt đến nỗi bạn không cần quan tâm đến hai điều còn lại. Nhưng nó sẽ rất hiếm, và dù sao thì thực hiện tốt cả 3 điều vẫn dễ dàng và căn cơ hơn là chỉ cần làm đều thứ nhất.

Khi nào có thời gian, tôi sẽ nói nhiều hơn về vấn đề "cơm áo gạo tiền này". Image

4) Làm phần mềm tạo điều kiện có được cuộc sống cân bằng


Muốn sống hạnh phúc thì chúng ta phải khỏe mạnh về thể chất lẫn đầu óc. Mà đối với mỗi thứ, cách tốt nhất để nó khỏe mạnh là phải vận động.

Làm phần mềm là cách tốt nhất để vật động đầu óc. Nói chung các công việc liên quan đến dịch vụ, làm việc văn phòng, dạy học, nghiên cứu, ít nhiều cũng giúp vận động đầu óc. Sau khi kết thúc công việc, bạn có thể sử dụng thời gian rảnh để vận động tay chân, chơi thể thao, làm những việc khác để bồi bổ cơ thể. Thật là dễ dàng (dĩ nhiên nếu bạn chịu cố gắng Image).

Những người làm công việc tay chân, cơ bắp thì không được thuận lợi như vậy. Tôi từng có thời gian làm rồi nên biết rõ. Sau một ngày làm việc đầu óc mệt nhoài, tôi có thể dễ dàng vận động gân cốt cho cân bằng. Nhưng sau một ngày làm việc tay chân rã rời, thật không dễ tí nào để dành thêm thời gian để vận động đầu óc. Đọc sách, chơi ô chữ, luyện vài bài toán Image Không đời nào làm được. Khả thi nhất là nằm dài xuống và coi một bộ phim lê thê, ướt át của Hàn Quốc. Cái đó thì thật ra chẳng giúp vận động đầu óc được một tí gì hết.

Một số công việc khác cũng độc hại không kém. Làm sếp chẳng hạn, hay đi tiếp khách để bán hàng cũng vậy. Bia rượu, thuốc lá, và có khi thêm mấy cái khoản nếu-không-nói-ra-thì-ai-cũng-hiểu, Image thật là một tai họa cho thể chất lẫn đầu óc. Image Uống xong một chai bia phải mất gần 1 giờ đồng hồ chạy bộ để khắc phục sự cố; nếu uống hết một két bia chắc phải mất hết một ngày không ăn uống gì để chạy bộ. Image

5) Và thử suy nghĩ tích cực về những suy nghĩ tiêu cực trước đó


Nếu mình làm phần mềm thì gia đình không "nhờ vả" gì được. Nhưng nếu nghĩ kỹ lại, thì thật là tốt. Ai trong chúng ta đều có gia đình, họ hàng, bạn bè, người quen để có thể "nhờ vả" những dịp như vậy. Thế thì khi nào mình cần, hay gia đình mình cần, thì cứ việc nhờ những người đó giúp đỡ. Image

Tôi muốn làm công việc mà mình yêu thích, làm người thực sự có ích; còn mấy việc "linh tinh và rắc rối" đó, chắc chắn có rất nhiều người có thể giúp đỡ tôi. Điều ngược lại thì tôi không muốn làm tí nào. Còn bạn thì sao?


Còn muốn tiếp xúc với bên ngoài nhiều hơn? Công việc lập trình đúng là không cho phép bạn tiếp xúc với nhiều người bên ngoài, nhưng đó là trong công việc. Lập trình không hề ngăn cản bạn sử dụng thời gian còn lại để làm những việc đó.

Đối với tôi, điều tuyệt vời nhất của công việc là nó không cho phép tôi gặp quá nhều người. Image Có nghĩa là nó sẽ giúp tôi không phải gặp những người mà tôi không thích, những người mà tôi và họ không đem lại sự thay đổi tốt đẹp cho nhau. Có nghĩa là nó giúp tôi quý trọng thời gian của mình, thời gian mà lẽ ra tôi phải dành cho những người tôi yêu thương nhất, những người yêu thương tôi nhất, những người có ý nghĩa đối với tôi nhất trong gia đình, công việc, sở thích,... Khi nhìn ra xung quanh, tôi thấy mình không thể làm một số công việc đơn giản bởi vì để làm tốt những việc đó, tôi phải hy sinh những điều có ý nghĩa nhất đối với tôi, để có được những điều mà thật ra chẳng có ý nghĩa gì về lâu dài cả, tôi phải làm bởi vì người ta yêu cầu tôi làm, hay là vì muốn được bằng như những người khác. Image

Vậy làm phần mềm thì lý thú hay là quá "cơ bắp"? Cũng nói về phần mềm, có người làm những việc rất high-tech, nhưng có người lại làm việc rất low-tech.

Thế nào là high-tech? Bạn có thể đọc cuốn sách "Nghệ thuật lập trình máy tính"
Thế nào là low-tech? Bạn thử đọc qua cuốn sách "Code Complete" Tôi đã đọc gần hết cuốn Code Complete, và đã từng cố gắng đọc cuốn "Nghệ thuật lập trình máy tính", nhưng chỉ được vài chương của tập I là bỏ cuộc. Từ đó tôi hiểu mình thích hợp với phần low-tech khi làm phần mềm.

Điều hấp dẫn khi làm mấy cái low-tech này là gì? Image Đó là tư duy để hiểu đúng vấn đề cần giải quyết, phân tích những giải pháp có thể rồi chọn là giải pháp tốt nhất, dùng những kiến thức và công nghệ hiện có (những cái hiện có thôi, còn muốn tìm ra cái mới thì không thuộc về phạm trù ở đây nữa) để thiết kế giải pháp đó, hiện thực, rồi kiểm tra. Tất cả những việc trên luôn đặt dưới áp lực thời gian, áp lực về chất lượng.

Dĩ nhiên, nếu công việc lập trình là đáng chán thì nguyên nhân không phải bởi vì bản chất công việc là đáng chán; mà nguyên nhân là có sự khác biệt giữa nguyện vọng của bạn và thực tế bạn đang làm. Trong trường hợp đó, cái mà bạn cần không phải là một chức vụ mới (tôi không bao giờ muốn làm sếp để sai những người cấp dưới làm những việc mà bản thân tôi cũng thấy "è lưỡi"), không phải là một công ty mới, mà là một trong 3 cách:
  1. Một công việc hoàn toàn mới, để thay đổi cái hiện tại.
  2. Một suy nghĩ hoàn toàn mới, để thay đổi cái nguyện vọng.
  3. Cả 1 và 2.
Tóm lại, mệnh đề "Làm phần mềm chẳng có gì cao sang và thật chán" là sai. Image
Lời kết
Lâu lắm rồi mới tập viết lại, thật là đã. Image Ở đây tôi chỉ mới đội mũ đen và mũ vàng để nhìn vào công việc mà mình đang làm. Khi nào rảnh chắc phải thử đội mũ trắng (dữ kiện, khách quan), hay các mũ màu khác để xem sao. Hay là có bạn nào giúp tôi làm việc này với.

Dự án CNTT dưới những góc nhìn khác nhau

Dạo này đang quản 3-4 dự án running một lúc, thấy oải quá.

Lang thang trên net thấy cái hình này hay hay về các góc nhìn khác nhau của một dự án IT nên hứng khởi post lên đây, vừa để ngẫm vừa để vui

Bill Gates thích gì?

Tình cờ lang thang vào cái blog của anh bạn Nhữ Đình Thuận thấy cái bài viết về Bill Gates khá hay, vả lại mình cũng khoái Bill Gates nên post lại ở đây, chia sẻ với bạn bè tý :D



Tôi vĩ đại hơn cả điều tôi mong muốn: "Tôi không mong muốn mình là một người vĩ đại, tôi vĩ đại hơn cả những điều mình mong muốn trở thành. Tôi muốn co lại một chút. Tôi cũng bình thường như tất cả mọi người, cũng phải chịu đựng những chuyến bay bị hoãn, cũng ngồi cùng ghế chờ... Có những trang web tôi chưa từng xem đến. Có những tôn giáo mà tôi không theo. Tôi nghĩ, chúng ta ai cũng có một mảnh đời riêng".

Làm: Không thích kinh doanh

Bill Gates khẳng định, ông chỉ dành 10% đầu óc để kinh doanh. Ông không muốn đặt chữ "businessman" vào trong card của mình. "Tôi là một nhà khoa học, khi tôi đọc sách về những nhà khoa học lớn như Crick và Watson phát hiện ra ADN, tôi thấy lý thú vô cùng. Các câu chuyện về sự thành công trong kinh doanh không hấp dẫn tôi như thế.

Chơi: Toàn xài bóng Golf cũ

Tiền bạc rủng rỉnh, Gates đã tiêu xài thế nào đối với những sở thích của mình? Ông nói vui: "Tôi nuốt những đồng 25 xu, đốt các hóa đơn đô la vậy đấy" Còn trên thực tế, Gate lại là người dè dặt trong tiêu dùng. Là người đã thiết lập lên nhiều quỹ học bổng rất lớn, nhưng khi mua những trái bóng chơi golf, Gates mua những trái bóng đã dùng rồi. Và Gates coi đấy là thú tiêu khiển của mình. Việc chơi golf đối với Gates rõ ràng là theo lối "học đòi". Mới chỉ từ những năm 90, ông mới có thói quen này do bị "lây nhiễm" từ các thành viên khác trong gia đình. Chơi nhiều đâm ra Gates cũng hơi nghiền cái trò chơi quý tộc này.

Xem: Mê mẩn phim hoạt hình

"Khi ở trong phòng khách sạn, tôi cũng bật kênh tanh tách như mọi người vậy. Tôi thích xem hoạt hình trên Nickelodeon vào ngày chủ nhật, hay lắm". Những phim hoạt hình mà Gate yêu thích là "Ren & Stimpy và Rugats". Gate hào hứng: "Hay tuyệt, hoạt hình đã thay đổi nhiều từ lúc tôi còn nhỏ. Tôi không thể miễn dịch trước sức hấp dẫn của truyền hình. Tôi chỉ cố gắng rời xa nó bởi vì tôi thích đọc".

Đọc: Thích sách báo nhưng ác cảm với tiểu thuyết

Gates thường "nghiền" những cuốn sách về gene, sinh học, nguyên tử. Ông đọc tất cả các trang của The Economist, The Wall Street Journal và Business Week, Gates cũng thích đọc Time và USD Today. Nếu đang trên đường đi công tác thì thế nào ông cũng đọc people. Ông thích chơi ô chữ trên những báo này. Tiểu thuyết thì ông chỉ đọc một cách ngẫu hứng, chỉ vì chị gái của Gates thích đọc những cuốn sách "vớ vẩn" này (từ dùng của Bill Gates) và cũng khuyên ông nên đọc. Thành ra, Gates cũng có một số vốn liếng về tiểu thuyết nhưng chỉ toàn là những ác cảm. "Tôi chẳng thích thú gì với những cái hiện có. Chúng hoàn toàn không chính xác"

Viết: Hồi ký đó là một kiệt tác

Nhiều người đã khuyên Gates viết hồi ký về những kinh nghiệm trong đời. Với uy tín và quyền lực của mình, chắc chắn cuốn sách đó sẽ vô cùng ăn khách. Nhưng Gates chưa hề có ý định đó. "Giờ mà tôi làm thì tôi sẽ viết về tương lai chứ không phải quá khứ. Khi nào tôi đã đứng tuổi rồi, 60 tuổi chẳng hạn, tôi có thể sẽ viết tiếp". " Khi tôi làm thì phải hay gấp trăm lần các sách hiện có" Gates tự tin hứa.

Ăn: Học ăn chay, chọn ăn nhanh

Có một thời kỳ, Gates tự nhiên thích ăn chay và kiên trì theo đuổi nó tới 3 năm trời. Nhưng đó chỉ là để chứng minh cho mọi người ông có thể làm được điều đó mà thôi. Nhu cầu công việc đã buộc Gates phải tìm đến đồ ăn nhanh. Gates thừa nhận là ăn đồ McDonald nhiều hơn mọi người. Cho nên, về thức ăn nhanh và những vấn đề văn hóa về thức ăn nhanh thì ông tự thừa nhận là "rất sành điệu".

Mặc: Nhờ mẹ tư vấn

Gates không chú tâm nhiều đến việc ăn mặc của mình hàng ngày. Có lúc, mẹ ông phải "tư vấn" về mẫu áo gì hợp với ca vát gì. Ông rất tôn trọng ý kiến của mẹ vì đơn giản trong lĩnh vực này ông không thể rành bằng mẹ mình.

Di chuyển: Khoái đi nhờ máy bay

Gates cũng tự lái xe và vẫn mua vé ở khoang hành khách khi đi công tác tại Mỹ. Nhưng khi đến Châu Âu, ông lại bay theo vé của doanh nhân. Còn khi đi chơi với Paul Allen, Gates lại bay nhờ bằng máy bay của bạn.

Chuyện "những người làm thuê số 1 Việt Nam"

Loạng quạng một hồi thì lạc vào Talawas, đọc được cái bài tản mạn về thế hệ 7X Việt nam và "Những người làm thuê số 1 Việt Nam và văn hoá tính khôn ngoan của nước" bình luận về "Những người làm thuê số 1 VN" được đăng trên báo Tuổi Trẻ Online nên post ra đây, pà con nào thích đọc thì xin mời, rùi bình luận.



Dẫn nhập: Tôi là một người thuộc thế hệ 7X. Trong quan hệ công việc và bạn bè, tôi quen một số bạn 7X làm việc cho các công ty nước ngoài tại Việt Nam. Đa số những người tôi biết có lương từ 500 đến 2.000 đô Mỹ một tháng. Có lẽ số lương này chưa đủ tiêu chuẩn để là những người làm thuê số 1 theo tiêu chí của báo Tuổi Trẻ. Nhưng so sánh với mặt bằng lương của đa số người Việt, tôi xin tạm xếp họ vào hàng ngũ làm thuê số 1 theo tiêu chí của tôi.

Tôi chỉ nói về 7X trong giới hạn những người mà tôi biết. Ðể có cái nhìn đầy đủ hơn, có lẽ chúng ta cần một cuộc điều tra lấy mẫu vài ngàn người, nhưng hiện tôi chưa có điều kiện để làm việc đó. Xin để ngỏ cho các bạn sinh viên ngành xã hội học. Nói theo các nhà khoa học thì mẫu của tôi nhỏ, lệch lạc và sẽ là sai lầm nếu rút ra những kết luận nào đó. Nếu bạn nghĩ mình nằm trong số đó và nổi giận thì đó là ngoài ý muốn của tôi. Hãy nghĩ bạn là người ngoại lệ, không phải là những người mà tôi nói đến.

Tôi cũng không muốn phủ nhận hay chê cười các bạn làm thuê số 1 trên báo Tuổi Trẻ. Các bạn rất tài năng và tôi khâm phục các bạn. Người tài cũng như người đẹp, vốn không có nhiều trên tinh cầu bé nhỏ này. Chúng ta nên yêu mến họ. Trong tầm quan sát, hiểu biết hạn hẹp của tôi, ở đây tôi chỉ đề cập đến những người làm thuê số 1 khác mà tôi biết. Những người này chẳng liên quan gì đến các bạn trên báo Tuổi Trẻ.





Nhân tiện cũng post một loạt các bài về "Những người làm thuê số 1 tại Việt Nam" của báo Tuổi Trẻ để tiện hầu quý bạn tham khảo.

- Người của những sự kiện!
- Câu chuyện anh thợ giặt trở thành giám đốc
- Ra đi để mang về...
- “Người buôn tiền” của HSBC
- “Sếp IT” của Tập đoàn Unilever VN
- Người “bắt mạch” những giếng dầu
- Hương Lúa - cô gái bạc tỉ!
- Người “của” Bill Gates
- Từ 50.000đ/tuần đến 6.000USD/tháng

Người của những sự kiện!

Một bài thuộc series Những người “làm thuê số 1” - Nguồn: Tuổi Trẻ Online


Người của những sự kiện! Đó là biệt danh mà mọi người đặt cho Nguyễn Ngọc Thụy. Quả thật những sự kiện, lễ hội, show diễn... thuộc đẳng cấp quốc tế được mọi người biết đến trong thời gian qua ít khi nào thiếu vắng bóng dáng của chàng trai còn quá trẻ này.

Vậy mà một thời gian dài đây là công việc chỉ dành cho những chuyên gia nước ngoài, những công ty quốc tế chuyên tổ chức sự kiện lớn với mức lương 2.000 - 3.000 USD /tháng trở lên...

Cơn mưa và ổ bánh mì

“Đó là một ngày mưa tầm tã. Tôi cùng ba người mẫu trong Câu lạc bộ thời trang Hoa học đường đến mời chị chủ tiệm bánh mì Như Lan mua vé xem ca nhạc ủng hộ trẻ em nghèo. Chị chủ tiệm thấy tội nghiệp quá, không những mua vé mà còn cho bốn ổ bánh mì thịt, đó là ổ bánh mì ngon nhất trên đời mà tôi được ăn, chỉ vì lúc đó... đói quá!…”.

Thụy kể về cái thời tập tễnh làm “nhà quản lý” khi còn là học sinh cấp III, ngô nghê bước vào nghề thời trang như một cuộc dạo chơi đầy lãng mạn và trong sáng. “Năm ấy mình đang học lớp 11, vì là bí thư Đoàn Trường Bùi Thị Xuân nên các anh chị trong Nhà văn hóa Thanh niên phân công phụ trách cuộc thi Hoa học đường - cuộc thi thời trang đầu tiên cấp thành phố dành cho tuổi học trò.

Vui đến quên mệt khi tổ chức, nhưng khi chuẩn bị kết thúc thì thấy tiếc: khó khăn lắm mới qui tụ được chừng đó người đẹp, chẳng lẽ trao giải xong là rã đám ? Sao không thể đứng ra tổ chức họ thành một nhóm - một CLB hẳn hoi?

Thụy nộp đơn xin thành lập Câu lạc bộ Hoa học đường - câu lạc bộ thời trang học sinh đầu tiên chuyên tổ chức những chương trình biểu diễn gây quĩ công tác xã hội cho trẻ em nghèo, gia đình neo đơn... Và từ đó tên của CLB đã trở thành một “thương hiệu” lớn trong làng thời trang VN.

Ba năm sau, khi “thương hiệu” này lên đến đỉnh cao của nghề nghiệp thì Ngọc Thụy lại ra đi: “Rất đơn giản, vẫn yêu thích những show diễn, những sân khấu hoành tráng, nhưng tôi nghĩ hoạt động thời trang của mình cũng chỉ là bán chuyên nghiệp và nặng về tính biểu diễn chứ chưa thật sự là một nhà tổ chức những sự kiện lớn... Tôi đã được đi trên sông rồi, bây giờ cần tìm đường ra biển thôi”.

Cậu sinh viên năm 2 khoa quản trị kinh doanh chuyển sang một công việc mới: làm quản lý cho cửa hàng thời trang. Mỗi ngày làm việc 16 giờ với mức lương 1,6 triệu đồng/tháng, nhưng Ngọc Thụy thú nhận: “Vẫn chưa hết công suất của tôi. Có người cho rằng tôi bị bệnh - bệnh khát khao được làm việc!” .

Anh chàng thừa năng lượng này vẫn thích can thiệp vào những công việc mang tính khuếch trương thương hiệu: từ việc tiếp xúc với báo chí, sắp xếp lại cách trình bày cửa hàng, tạo ra những giá trị cộng thêm cho khách hàng như cảm giác “sành điệu”, rủ rê bạn bè người mẫu tham gia và đặc biệt là chương trình phối hợp với các thương hiệu lớn của quốc tê, làm những cú đột phá vào thị trường.

Sự kiện dầu gội đầu mang nhãn hiệu O. được tung ra thị trường đã làm xôn xao giới marketing lúc ấy là do chính bàn tay của Thụy. Sau sự kiện này, cậu sinh viên Ngọc Thụy được công ty của nhãn hiệu O. thưởng vài chục triệu. Cầm tiền trên tay lúc đó Ngọc Thụy cứ nghĩ miên man: “Chỉ một ý tưởng tổ chức sự kiện mà người ta trả cao đến như vậy à? Đó là một nghề độc đáo và nghiêm túc!”.

Một công việc rất nghiêm túc. Và với anh chàng bí thư Đoàn thì cả những chuyện “vác tù và hàng tổng” như hiến máu nhân đạo, thăm trẻ em nghèo, giao lưu với thanh niên công nhân…cũng phải thật ấn tượng và độc đáo. Ngọc Thụy bảo: “Sự kiện đôi khi không phải nhiều tiền là độc đáo, mà quan trọng hơn là ý tưởng sáng tạo, phải làm sao cho người ta “cảm” được sự kiện đó”.

Không chỉ làm một mình, Ngọc Thụy còn “móc show” cho các sinh viên có máu phong trào như mình làm thêm ngoài giờ. Ngọc Anh, một sinh viên đồng môn giờ là giám đốc một công ty quảng cáo có tiếng, nhớ lại: “Chẳng hiểu hắn lấy đâu ra nhiều năng lượng như vậy. Làm việc hết mình, chơi hết ga và lúc nào cũng toe toét cười. Nhưng chưa bao giờ bị điểm kém , không biết hắn lấy thời gian đâu mà học nữa…”.

Kể lại câu chuyện này cho Ngọc Thụy, anh lại cười toe: “Đâu có, tôi học nghiêm túc lắm chứ. Thật ra chuyện tiền nong lúc đó không là vấn đề lớn, tôi thích là làm. Có những sự kiện mình tổ chức được trả hàng ngàn đôla, nhưng có những sự kiện công tác xã hội được trả công bằng một... ổ bánh mì mà tôi vẫn làm hoành tráng như nhau. Thậm chí công tác xã hội còn làm xúc động hơn bởi tôi có thể nhìn thấy nhiều, nghe nhiều và học được nhiều điều từ cuộc sống”.

“Có những điều mà tiền không thể mua được !”

Ngồi trong góc khuất của quán cà phê gần cơ quan, tay ăn, tay không ngưng nghe điện thoại, mái tóc nhuộm hi-light xù ra đến xơ xác: “Đang bận quá, nhiều dự án đang chạy, mình cũng phải chạy”. Nhưng anh chàng vẫn cười rạng rỡ và “thuyết giảng” về cái nghề PR của mình: “Đâu phải PR là muốn nói trắng thành đen được đâu! Cho dù là sự kiện mang tính chất quảng bá cho các sản phẩm, nhưng quan trọng là phải trung thực và tạo ra sự thân thiện của sản phẩm đến người tiêu dùng.

Chẳng hạn ai cũng biết Omo là bột giặt, nhưng mình làm sao để nó trở thành người bạn thân thiết của các bà nội trợ, mà các bà thường là tay hòm chìa khóa cho gia đình kia mà!”. Ngọc Thụy vẫn không khác mấy cái thời say mê hoạt động Đoàn, ý tưởng về các sự kiện cứ tuôn trào, mà lắm lúc anh “buộc” các doanh nghiệp, các công ty nước ngoài phải tổ chức những sự kiện quảng bá thương hiệu, sản phẩm theo hướng xã hội của anh.

Người nước ngoài vốn “lạnh lùng” vậy mà sau những sự kiện giao cho Ngọc Thụy tổ chức lại được người tiêu dùng cảm nhận một cách xúc động thì họ cũng… xúc động theo. Và một trong những sự kiện của anh mang màu sắc, tinh thần, tình cảm VN đã được một tập đoàn của Mỹ trao giấy khen “chương trình xuất sắc nhất của tập đoàn” và mời đến Mỹ nhận giải. Choáng và hạnh phúc, anh chàng lê la khắp nơi ở đất Mỹ để thỏa mãn cái máu phiêu lưu của mình.

Với Ngọc Thụy, sự kiện được người ta chú ý không phải ở mức độ hoành tráng với tiền triệu, tiền tỉ mà quan trọng nhất là cái hồn của sự kiện đó. Một lần Ngọc Thụy muốn thực hiện chương trình bán đấu giá những bức ảnh về nạn nhân da cam của nhiếp ảnh gia Đoàn Đức Minh nhưng chưa biết phải làm sao.

Thụy nhớ lại cái cảm giác không diễn tả được bằng lời của mình khi lần đầu nhìn thấy những sinh linh bé nhỏ không tượng hình người vì chất độc hủy diệt này mà giọng nghẹn lại. Gặp nhiều người bạn trong nghề, người góp ý này ý kia, những “ý tưởng lớn” gặp nhau và cùng nhau kéo đến tòa soạn báo Tuổi Trẻ và đề xuất thực hiện chương trình “Đêm trắng”.

Đó là một sự kiện xúc động, có tiếng vang lớn, nhiều công ty tìm đến đề nghị trả cho Ngọc Thụy 3.000 USD để làm một “show” ấn tượng tương tự “Đêm trắng”, nhưng anh lắc đầu từ chối, bởi cái hồn không thể bị chi phối bởi đồng tiền! “Hình ảnh hàng ngàn người cùng cầm hạc giấy, cầm nến trong đêm, cùng hát và hướng về một ngày mai tươi sáng hơn cho những đồng loại bất hạnh. Tôi hình dung một mảnh khăn trắng được mọi người chuyền tay nhau như một sự sẻ chia và chung lòng. Đồng tiền nào có thể thay thế cái hồn như thế?” - Ngọc Thụy nói về một cảnh trong chương trình “Đêm trắng”.

Ngọc Thụy bước vào thế giới của nghề PR kiêm tổ chức sự kiện cho tập đoàn JWT một cách nhẹ nhàng, trong khi đó là một vị trí mà nhiều người yêu thích: “Thụy không xem nặng tiền nong, giờ có công ty nào tuyển Thụy làm mà trả lương bằng những chuyến du lịch miễn phí đi khắp thế giới là Thụy làm liền, không phân vân gì cả. Thụy đã đi khắp Đông Nam Á, Nhật, Pháp, Ý, Mỹ, Úc, Đức, Hà Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc... nhưng thế giới này còn mênh mông quá”.

Đang nói chuyện đi làm, ước mơ được đi khắp năm châu miễn phí, vậy mà ý tưởng lại bất ngờ ập tới: “ À mà sao VN mình đẹp mà công nghiệp du lịch kém thế nhỉ? Nếu có một công ty chuyên về quảng bá du lịch, mình tin rằng mình sẽ làm tốt cho mà xem. Singapore bé xíu, có cái gì đâu mà coi, vậy mà khách du lịch tìm đến ùn ùn và du lịch phát triển mạnh một phần cũng nhờ vào đội ngũ PR rất chuyên nghiệp.

Hồi báo chí lên tiếng vụ du lịch VN không có biểu tượng, tôi đã gọi điện thoại cả tuần ra Hà Nội xin đứng ra tổ chức sự kiện đi tìm biểu tượng cho du lịch VN, nhưng bên du lịch chỉ tới chỉ lui lòng vòng nên tôi nản quá bỏ cuộc luôn…”.

Ngọc Thụy lại ngồi im, trầm ngâm một cách xa xăm. Có lẽ một ý tưởng sáng tạo nào đó đang ùa về trong tâm trí anh chàng làm nghề PR này...



Nguyễn Ngọc Thụy sinh năm 1976 tại TP.HCM, tốt nghiệp khoa quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế TP.HCM.

Thụy từng là hạt nhân phong trào Đoàn của Trường THPT Bùi Thị Xuân, bí thư Đoàn Trường ĐH Kinh tế, tham gia chủ nhiệm CLB đội nhóm NVH Thanh niên…

Hiện anh đang làm PR manager của Công ty quảng cáo JWT.

Câu chuyện anh thợ giặt trở thành giám đốc

Một bài thuộc series Những người “làm thuê số 1” - Nguồn: Tuổi Trẻ Online


Đã từng kinh qua các vị trí quan trọng cho Tập đoàn kiểm toán quốc tế KPMG tại VN, Tập đoàn Cargill VN và bây giờ là giám đốc tài chính của Tập đoàn ACE Life VN. Con người này lại xuất thân từ một công việc “lạ lùng”: giặt khăn trải giường suốt năm năm trời!

Nếu không có một tố chất đặc biệt và sự vươn lên mãnh liệt thì Nguyễn Hồng Sơn đã chẳng thể đạt được vị trí như hôm nay với mức lương mỗi năm tương đương giá của một căn hộ cao cấp khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, khi mới tròn 36 tuổi.

Dấu vết nhọc nhằn

Xòe hai bàn tay ra trước mặt chúng tôi, bàn tay to còn hằn những vết chai sần nổi thành từng cục, Nguyễn Hồng Sơn, giám đốc tài chính của Tập đoàn ACE Life VN, nói trong hồi tưởng: “Tay tôi thì chai cứng còn chân thì phong thấp hành hạ bao năm, lúc nào tôi cũng sợ trúng gió sau một lần suýt chết trong phòng giặt. Tất cả đều là những kỷ niệm mà tôi chẳng bao giờ quên.

Tôi vào Sài Gòn học tài chính, sinh viên từ quê ra mà, biết làm gì để trang trải cuộc sống đây, may lúc đó có người quen xin cho tôi một chân giặt giũ trong khách sạn. Đó là những ngày rất dài và cơ cực, suốt ngày ngâm mình trong nước, trong xà phòng và ngập trong những tấm trải giường đủ để cả người rộp lên vì nước ăn. Sau đó trở về chỗ trọ bé xíu mà tôi chỉ đủ tiền để thuê... cái hành lang, nằm xuống là không cựa quậy gì được vì thân xác rã rời…”.

Vậy mà Sơn học giỏi! Sơn luôn tin một điều rằng dù ở môi trường nào, thử thách nào mình cũng phải nằm trong số những người giỏi nhất lớp.

Sau đợt thực tập, một công ty in đã “xem giò, xem cẳng” và nhận Sơn vào làm kế toán. Đó là tháng 7-1991, Sơn được ở lại Sài Gòn, dù cho mức lương ngày ấy không đủ xoay chuyển tình thế của một sinh viên nghèo. Sáng đi làm ở công ty, tối về Sơn vẫn phải tiếp tục đi giặt thêm mới đủ sống. Cái đói, cái cực đã làm Sơn ngã gục. Sau này nhiều nhân viên khách sạn mà Sơn đi giặt thuê kể lại rằng: “Cậu ấy bị trúng gió, khủng khiếp lắm, lăn đùng ra trong phòng giặt, mình mẩy tím ngắt, tụi tôi cứ nghĩ là cậu ấy chết rồi chứ!”.

Hồi tỉnh sau cơn bạo bệnh, Sơn nghĩ lại: không thể lao đầu vào mọi thứ bất cần thân thể để kiếm tiền rồi đổ bệnh, có khi không còn mạng nữa chứ đừng nói tới tương lai! Sơn quyết định phải thoát ra khỏi cuộc sống ấy, xin vào làm ở chỗ một người bạn thân: một chân thủ kho cho công ty bột ngọt.

“Cái thời ấy cũng lạ, đi làm người giữ kho mà suốt ngày phải vật lộn với một đống bảng biểu, số liệu... cao vượt mặt theo những công thức chán ngắt. Lúc đó tôi tự hỏi: tại sao người ta không có một chương trình nào có thể tự quản lý những thứ này thay cho việc cặm cụi ngồi tính tính, toán toán. Rồi tôi tự trả lời, không có sẵn thì mình tạo ra, còn không biết tạo thì mình đi học, phải công nhận lúc đó tôi liều mạng thật!...” - Sơn nhớ lại.

Anh xin vào thẳng lớp học lập trình nâng cao dù chỉ mới “a,b,c…” về tin học. Thế mà cũng học được, rồi về vật vã với những hàm, những biến của Foxpro để rồi cuối cùng cho ra được một phần mềm quản lý kho cho công ty.

“Nhưng oái oăm là sau khi có phần mềm quản lý, có máy làm thay mình rồi thì mình đâm ra rảnh rỗi. Ngồi cả ngày mà không có việc gì để làm, cứ ngồi ngáp ngắn ngáp dài và nghĩ ngợi lung tung, nghĩ về cuộc sống, về những giấc mơ... Quá nhiều ước mơ phía trước mà bây giờ lại đi ngồi ngáp vặt chờ ăn lương thôi sao! Đời trai như thế nhục không chịu được…”.

Sơn bỏ việc và… vác đơn đi xin việc khác, nộp hơn 50 bộ hồ sơ xin việc, 30 lần được mời đi phỏng vấn, có lần vào đến vòng “chung kết” nhưng “trời ơi”, người ta lại tuyển Sơn làm... thủ kho! “Cho dù có phải quay lại với cái nghề giặt giũ đến bã cả da, bủng cả người, trúng gió lăn quay để có tiền đi học một nghề gì khác thì tôi cũng chịu, tôi không thể trở lại cái nghề thủ kho chết tiệt này nữa!” - Sơn cương quyết.

Để giấc mơ thành sự thật

Cho đến một hôm, người bạn thân thấy Sơn tội quá nên chìa ra cho Sơn một tờ đơn xin việc của Tập đoàn kiểm toán KPMG. “Ôi trời! Tài chính là nghề của tôi mà. Tôi xin và được nhận vào làm ở KPMG, lúc ấy KPMG tuyển cũng tương đối dễ vì cái văn phòng bé tẹo chỉ mới có vài nhân viên từ Malaysia vừa sang...”.

Nhiệm vụ đầu tiên của Sơn là tháp tùng sếp bay ra Đà Nẵng, sau này Sơn thú thật: “Toát mồ hôi vì sướng và vì lần đầu tiên trong đời được đi máy bay!”. Ra đến nơi, sếp bảo: “Tôi bảo gì anh làm nấy thôi, không được hỏi”. Sơn gật đầu. Thế là Sơn làm... thiên lôi. Lần đầu tiên bước chân vào ngành kiểm toán, được xem sổ sách của người khác cũng có những thú vị là lạ. Và tuyệt diệu nhất là khi về nhà, sếp gọi vào để thực hiện “tiết mục” hỏi và đáp. Tất cả mọi ấm ức, thắc mắc, băn khoăn lẫn tò mò được dịp bày tỏ, Sơn như một người bị lạc vào một thế giới sương mù.

“Hầu như tất cả kinh nghiệm về kế toán, về tài chính của mình trong thời gian trước đều không thể ứng dụng được”. Sơn biết kiến thức về tài chính mà anh và nhiều sinh viên khác đã học qua là quá ít ỏi so với một thực tế như đại dương mênh mông của nghề nghiệp. Sơn đăng ký đi học, lấy thêm bằng kế toán Mỹ, học kiểm toán viên...

“Được cái là công ty có nhiều sách vở, tài liệu cho mình nghiên cứu và tiếng Anh của tôi cũng đang khá dần lên nên tiếp thu khá nhanh”. Bước thăng tiến nghề nghiệp bắt đầu mở ra trước mắt anh thủ kho ngày nào...

Rồi cũng có ngày anh được ra “đại dương”, công ty cử Sơn sang Mỹ làm việc hai năm. Trước là để học tập kinh nghiệm, sau là để dọn đường cho những thành viên khác sang thực tập tại công ty mẹ... Sơn không ngất ngây trước sự tráng lệ, không ngộp trước nền tài chính khổng lồ của thế giới, nhưng cái thú nhất của anh trong những ngày ở Mỹ là “được phân công làm sếp một số người Mỹ mắt xanh da trắng ở Chicago, đối với tính cách Mỹ điều này không dễ dàng chút nào, họ vẫn nhìn mình đầy nghi ngờ.

Sau đó rất lâu họ mới thật sự tâm phục khẩu phục sau những gì mình chứng minh được trong công việc. Tôi có một tâm niệm trong chuyến thử thách này: mình phải làm thật giỏi và phải mang về được một chứng nhận chuyên nghiệp trong công việc...”. Và Sơn đã thực hiện được tâm niệm đó với tấm bằng kiểm toán viên quốc tế...

Từ chối mọi đề nghị ở lại Mỹ làm việc, Sơn quay về nước nhưng KPMG thay đổi cơ cấu điều hành, Sơn sang làm cho Cargill VN với chức danh giám đốc tài chính.

“Có lẽ mọi giấc mơ của tôi sẽ dừng lại ở Cargill nếu ACE Life không xuất hiện. Tôi bị thuyết phục bởi một yếu tố ở tập đoàn mới này: công ty Việt, nhân lực Việt và văn hóa Việt, chỉ duy có cái tên và vốn là của Mỹ”. Một công việc mới, thử thách mới nhưng thú vị đang chờ đón con người nghị lực này...

Trầm ngâm trong căn phòng làm việc, xoay xoay chiếc nhẫn cưới trên tay, Nguyễn Hồng Sơn thổ lộ chuyện riêng tư: “Đến giờ tôi mới có thể thực hiện khát vọng lớn nhất cuộc đời mình: xây cho gia đình một mái nhà thật khang trang. Ngày xưa nghèo khó quá, anh chị em suốt ngày cứ chí chóe giành nhau từng miếng ăn. Lớn một chút thì ly tán. Rồi tôi lại đi học xa, đi làm xa... Tôi muốn gầy dựng một chốn bình yên cho cha mẹ, anh chị em sum họp với nhau, quây quần đoàn tụ như ngày xưa, cái ngày mà người làng cứ bảo gia đình tôi được phong danh hiệu... đông con nhất làng”!



Nguyễn Hồng Sơn sinh năm 1969 tại Quảng Ninh, Quảng Bình.

Tốt nghiệp khoa tài chính Đại học Kinh tế TP.HCM. Từng làm kế toán tại Công ty In số 2, TP.HCM; thủ kho của Ajinomoto; chủ nhiệm kiểm toán tại KPMG VN và KPMG Mỹ; giám đốc tài chính của Tập đoàn thức ăn gia súc Cargill VN và hiện là giám đốc tài chính của Tập đoàn bảo hiểm ACE Life VN.

Thời chiến tranh, cha Sơn thoát ly theo cách mạng, mẹ anh một nách nuôi tám đứa con với khoai lang, củ mài và mọi thứ bà kiếm được. Vậy mà cuộc chiến khốc liệt cũng tàn nhẫn quét bay ngôi nhà bé nhỏ.

Từ Quảng Bình, gia đình Sơn chạy vào Huế. Đến năm 1982, người bố trở về và... “chia quân”. Bốn con theo cha vào Biên Hòa, Đồng Nai tiếp tục công việc của một cán bộ khí tượng thủy văn, bốn con ở lại Huế với mẹ với công việc kế toán nông nghiệp.

“Cái thời ở Biên Hòa ấy, năm bố con mơ ngày mơ đêm có được một chiếc xe đạp. Làm gì có tiền mà mua, cha tôi đi nhặt đâu đó được một cái khung xe, rồi suốt mấy tháng trời xin chỗ này vài món, đổi chỗ kia vài phụ tùng, vậy mà cũng ra một cái xe đạp để cả nhà cùng đi. Ngày ấy tôi mê vẽ nhưng không có tiền nên thôi. Ngày ấy tôi mê các mạch điện tử nhưng không có tiền nên cũng thôi. Đành ở nhà…”.

Nhưng Sơn không thể an phận, vượt lên mọi nhọc nhằn của cuộc sống đã như là điều kiện “bẩm sinh” để anh tồn tại.

Ra đi để mang về...

Một bài thuộc series Những người “làm thuê số 1” - Nguồn: Tuổi Trẻ Online




Đó là một cô gái đã chọn cho mình một hành trình không giống ai. Tốt nghiệp đại học lại đi rửa chén trong nhà hàng năm sao, chuẩn bị lên chức thì đi học nước ngoài. Rồi lại bỏ hết mọi thứ để có thể đi học thạc sĩ ẩm thực. Và cuối cùng, sau khi bôn ba khắp nơi, cô gái trẻ quay về quê nhà...

Học ĐH Kinh tế và đi… rửa chén!

Nhìn Ngọc Hà khó mà đoán được tuổi cô, những nhà báo nước ngoài khi nghe giới thiệu cô là tổng giám đốc đều ngạc nhiên kêu: “Wow, sao cô nhỏ thế?”. Nhỏ bao nhiêu không biết, chỉ biết rằng con đường cô đã đi qua là một con đường lớn và dài, cô đã tự mình vượt qua một cách thông minh và táo bạo cách đây 11 năm.

Gặp cô trong một góc quán cà phê. Bằng một giọng nói khá quyết đoán, Ngọc Hà kể về cái ngày cô bị bạn bè, gia đình bảo “điên” khi chuẩn bị tốt nghiệp khoa quản trị kinh doanh Trường đại học Kinh tế TP.HCM lại đi xin việc tại khách sạn nổi Sài Gòn (Saigon Floating Hotel). Mà làm gì cơ? Cô bảo: làm phục vụ.

Nói cho sang chứ thật ra công việc Ngọc Hà được phân công là rửa ly, rửa chén dưới bếp tầng hầm, cả ba tháng trời làm việc thực tập sinh mà chỉ được “ló mặt” lên nhà hàng có vài ba lần. Vậy mà mỗi lần nhắc đến công việc ngày xưa này, Ngọc Hà đều khen là “hấp dẫn” bởi nơi đây có phong cách chuyên nghiệp trong huấn luyện và quản lý nhân viên. Từ việc nhỏ nhất như cách cầm chiếc khay cho tới sắp đặt muỗng nĩa từng loại món ăn, chính xác đến từng inch và người quản lý có thể điều hành, quan sát nhân viên thuộc cấp ở mọi góc độ…

Thật ra Ngọc Hà không “điên” như mọi người tưởng, việc cô xuống nơi này làm còn có một điều bí mật: trước đó cô phát hiện dưới tầng hầm của khách sạn nổi có một thư viện với đầy đủ các loại sách về quản lý khách sạn, nhà hàng... Đó là “cẩm nang” của cả một nền công nghiệp ẩm thực.

Hà bảo: “Ngay từ lúc chọn cách đi rửa chén, rửa ly, tôi đã quyết định đến với nghề này một cách nghiêm túc nhất, ở đẳng cấp cao nhất”. Mỗi lúc xong ca, người ta nhanh chân ra về, Ngọc Hà lại lủi xuống tầng hầm và đọc say sưa tất cả. Những cuốn sách mở ra một chân trời quá mới, nói rằng nghề phục vụ đâu chỉ là bưng bê mà là cả một qui trình công nghiệp về quản lý. Rồi những tờ báo mà khách hàng đọc và vứt vào sọt rác, Ngọc Hà cũng lượm mang về nhà đọc. Những ý tưởng ấp ủ cứ lớn dần trong đầu cô.

Hết ba tháng làm thực tập dưới bếp, giám đốc ẩm thực hỏi: “Cô có muốn làm việc ở đây?”. Ngọc Hà gật đầu nhưng bảo: “Để ra trường đã, giờ phải viết báo cáo thực tập”. Ra trường, cô quyết định vào làm phục vụ chính thức.

Ngọc Hà cặm cụi đi con đường của mình: luôn tới trước giờ lên ca 15 phút, chỉnh đốn trang phục, xòe tay để kiểm tra rồi bước vào nhà hàng chụp lấy cái khay như một “vật bất ly thân”, vừa làm vừa xem xét những qui trình đã hết sức chặt chẽ này thể nào cũng còn chỗ cho mình cải tiến. “Người ta chỉ trông hết tám tiếng làm việc là về nhà nghỉ ngơi, đi chơi, mua sắm..., còn Hà thì bỏ ra nhiều thời gian hơn thế để suy nghĩ về công việc bởi Hà say mê nó”.

Cho tới một ngày, có một vị khách lạ cứ nằng nặc hỏi tên Hà: “Tôi thấy cô nói tiếng Anh quá tốt, muốn biết tên thôi”. Sau đó, ông này về nước và viết một bức thư gửi lời cảm ơn tới tổng giám đốc khách sạn. Đó là một vị khách VIP - tổng giám đốc Tập đoàn American Bank. Vị tổng giám đốc khách sạn nổi cho gọi Ngọc Hà lên và gửi một thư cảm ơn khác: “Sự khen ngợi mà khách hàng dành cho cô là sự thành công của công ty. Xin cảm ơn!”. Cô phục vụ hơi bối rối, trả lời đơn giản: “Chỉ là nhiệm vụ của tôi và tôi đã làm tốt thôi!”. Cô khá nổi tiếng từ bữa đó!

Sau một năm làm phục vụ, Ngọc Hà lên chức tổ trưởng giám sát và ba năm sau cô chuẩn bị nhận quyết định làm quản lý nhà hàng thì một vị khách lạ xuất hiện…

Ra đi và mang về…

Đó là một người Singapore, ông ngồi ăn, quan sát chăm chú, rồi đột nhiên gọi người phục vụ lại và hỏi: “Cô có thích đi Singapore học không? Tập đoàn Amara sắp mở một khách sạn lớn ở TP.HCM”. Người khách ấy là ông Lee Weng Kee, chủ tịch hội đồng quản trị của Amara.

Ngọc Hà nhớ thời thực tập cô cũng từng một lần nghe chính ông khách này hỏi một điều tương tự nhưng đã phải từ chối ngay vì… sợ. Lần này, sợ bị từ chối nữa, ông Lee gửi ngay một số điện thoại bảo sáng hôm sau sẽ có giám đốc nhân sự Amara bay từ Singapore sang, cô nên đến gặp.

Amara là tập đoàn khách sạn quốc tế lớn thứ ba đang đầu tư ở VN lúc đó. Giám đốc nhân sự nói với cô về cơ hội của đợt huấn luyện cuối cùng tại Singapore. Ngọc Hà xin thêm thời gian suy nghĩ. Buổi chiều, người của Amara gọi điện đến nhà cô đề nghị gửi hình để làm passport. Vậy là đi Sing!

Sáu tháng trời ở Singapore mở ra cho cô một chân trời lớn hơn: đất nước đảo quốc nhỏ bé này có nền công nghiệp khách sạn đi trước Sài Gòn chừng mấy chục năm. Những điều đọc trong sách vở, bây giờ cô đã sờ mó được rồi. Người ta dạy cho Ngọc Hà tất cả: từ cách quản lý nhà hàng, bar, nhân sự, tính giá...

Cô còn tranh thủ xin học thêm tại trường dạy nghiệp vụ khách sạn nổi tiếng ở Sing là Shatec. Ngọc Hà bây giờ như đã chạm được những nấc đầu tiên của những hoạch định riêng cho mình. Cô ký hợp đồng ba năm với khách sạn Amara trong chức danh trợ lý giám đốc ẩm thực - phụ trách hội thảo, hội nghị. Sau đó Hà lần lượt làm giám đốc kinh doanh tiếp thị, trợ lý giám đốc bộ phận kinh doanh (phụ trách phần chiến lược phát triển).

Thời điểm của năm 1998, Ngọc Hà là một trong những người đầu tiên thực hiện các chương trình tạo sự kiện với vai trò của một PR. Cô thách thức: “Nếu tôi làm đạt doanh thu được giao, nhân viên tôi được gì?”. Kết quả, nhân viên cô lúc nào cũng được hưởng lương tháng 14, còn cô hưởng tới tháng lương thứ... 15. Thời điểm đó các công ty đua nhau tổ chức hội nghị, hội thảo ở các khách sạn khu vực trung tâm, còn Ngọc Hà thì biến Amara thành trung tâm tổ chức tiệc cưới, tổ chức các sự kiện cho các công ty với giá... không thấp một chút nào.

Sau ba năm, một lần nữa Ngọc Hà quyết định đi học tiếp. Không thể nào chấp nhận cảnh người Việt dù cố gắng cỡ nào cũng chỉ vươn tới vai trò giám đốc kinh doanh tiếp thị! Và trường cô chọn là Swiss Hotel Management School - một trường đại học danh tiếng của Thụy Sĩ mà bất kỳ giám đốc khách sạn nào cũng mơ ước được vào học nơi đó. Cô muốn có một bằng thạc sĩ ngành ẩm thực!

Số tiền 30.000 USD học phí lẽ ra đủ để Ngọc Hà mở một doanh nghiệp riêng, nhưng như thế sẽ chỉ quẩn quanh với những gì đã biết, cô muốn đầu tư vào tương lai hơn. Sang Thụy Sĩ học và được chu du khắp châu Âu, Hà cảm thấy hài lòng với quyết định của mình. Tốt nghiệp với số điểm khá cao, Ngọc Hà được các tập đoàn quốc tế nhận vào làm.

Cô chọn Tập đoàn Le Meridien bởi tính cách trộn lẫn Pháp - Mỹ ở đây. Vậy là sang Anh làm để tranh thủ nộp đơn xin học thêm các khóa quản lý dự án du lịch của Trường Manchester University. Cô làm việc với chức danh quản lý, xử lý dữ liệu - hoạch định chiến lược kinh doanh cho chuỗi nhà hàng khách sạn Le Meridien. Thời gian làm việc 12 giờ/ngày.

Cuối tuần, cô tranh thủ đăng ký làm bán thời gian cho các nhà hàng, khách sạn khác từ 8-10 giờ/ngày chỉ với mục đích đi và quan sát nhiều hơn các nhà hàng của Anh như thế nào. Lương của người Anh bình thường là 4-5 bảng Anh/giờ nhưng với bằng cấp của cô, người ta phải trả đến 6,5 bảng Anh/giờ.

Tháng 9-2004, Ngọc Hà về VN. Chỉ định về nghỉ một thời gian rồi lại quay sang Canada với công việc quản lý mà cô đã tìm được trong một nhà hàng lớn với mức lương tháng là 5.000 đôla Canada. Còn hai ngày nữa lên đường thì tình cờ Hà bước chân vào nhà hàng Nam Phan, giật mình nhận ra một vẻ đẹp, theo thói quen ở nước ngoài, cô lại thấy “hễ cái gì người Việt mà làm đẹp đều thấy tự hào như là của chính mình vậy”. Hỏi ra, nó nằm trong chuỗi nhà hàng khách sạn của Khaisilk.

Ngọc Hà quyết định ngày mai sẽ nộp hồ sơ ứng thí vào chức tổng giám đốc: “Từ trước giờ chỉ có tôi đi tìm công việc chứ không bao giờ để công việc tìm tôi”. Chủ nhà hàng gặp, nhận xét: “Cô có vẻ thích quyền lực!” rồi đề nghị một thử thách: làm giám đốc ẩm thực, đầu tiên chỉ phụ trách một nhà hàng rồi sau đó mới tính đến vị trí tổng giám đốc. Cô chấp nhận và bắt đầu những thay đổi cơ bản của mình, lần đầu tiên sau hơn 10 năm trời ấp ủ, Ngọc Hà áp dụng công nghệ quản lý chuỗi nhà hàng cho hệ thống của Khaisilk Group.

Nhân viên sau này kể lại: chỉ trong bảy tháng cô cải tiến mọi cái bằng mấy năm trời. Cô muốn những vị khách VIP, các nguyên thủ quốc gia các nước đến TP.HCM sẽ chứng kiến những kiểu cách tinh tế và nghệ thuật phục vụ chẳng thua bất cứ một nơi nào. “Điều căn bản nhất mà tôi muốn nhân viên mình có được ấy là suy nghĩ nhanh, quyết đoán nhanh và làm việc nhanh - đó là tiêu chuẩn của một nhân viên trong môi trường làm việc mang tính quốc tế...”.

Đối với riêng mình, hành trang bao nhiêu năm ra đi, học hỏi, và nay cô mang trở về VN là niềm vui lớn và cũng là niềm tự hào, bởi khi nói tới đẳng cấp quốc tế thì nhiều người cứ nghĩ nó đang ở đâu đâu mà sao không thể là chính tại VN và do con người VN tạo nên!...



Lê Thị Ngọc Hà sinh tại TP.HCM, tốt nghiệp khoa quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế TP.HCM năm 1994.

Hà có một lượng bằng cấp, giấy chứng nhận và thư biểu dương đáng nể: thạc sĩ ẩm thực tại Trường Quản lý nhà hàng Thụy Sĩ; khoa quản trị dự án du lịch tại Đại học Manchester, Anh; khóa học quản trị cao cấp tại Đại học cộng đồng New York, Mỹ.

Hiện nay, Hà đang là giám đốc ẩm thực của chuỗi nhà hàng Nam Phan, Nam Kha và Au manoir de Khai. Hà khẳng định: “Đến tháng sau, tôi sẽ là tổng giám đốc Khaisilk”.