Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao nhà Tây Sơn sụp đổ?

© Giang Lê - The X file of History

Trong lịch sử Việt Nam tồn tại không ít các cuộc khởi nghĩa nông dân; tuy nhiên đỉnh cao nhất phải kể đến là phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Một cuộc khởi nghĩa vĩ đại, lập nên một sự nghiệp oanh oanh liệt liệt nhưng lại quá ngắn ngủi. Bởi trong đó đã tồn tại rất nhiều hạn chế chết người.

Bài viết dưới đây của bạn Giang Lê đến từ Cần Thơ, cảm ơn bạn, và chúng tôi luôn hoan nghênh những bài viết lịch sử xuất sắc gửi đến page The X file of History.

Ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ



Có một điều mà lịch sử đã bị chiến công vĩ đại của Quang Trung ở Thăng Long che lấp đi ít nhiều. Dù đã càn quét từ nam chí bắc, Quang Trung vẫn chưa thật sự thống nhất được toàn vẹn theo kiểu Trung Ương mà theo kiểu cát cứ. Chính ở đó, xuất hiện hạn chế thứ nhất.

Để bắt đầu nói về hạn chế này, phải nói về 1 bài học mà Tần Thủy Hoàng bên Trung Quốc đã làm, cũng thống nhất sau khi thu về được 6 nước tách biệt. Ngay khi đánh bại lục quốc; Thủy Hoàng Đế đã ra lệnh hủy bỏ danh xưng của các quốc gia cũ; chia cả nước ra làm 36 quận; đặt hệ thống quan lại hành chính quản lý các quận cùng với hệ thống giám sát; song song với đó ông định luật pháp như thời Thương Ưởng để nhanh chóng đưa đất nước đi vào quỹ đạo ổn định. Thống nhất luật pháp, thống nhất lãnh thổ; từ đây Trung Hoa hoàn toàn đặt dưới bàn tay trị vì của ông vì khi đó chỉ còn một quốc gia duy nhất, đó là Đại Tần. Sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể làm được là do ở nước Tần, ông là minh chủ cao nhất và duy nhất, không ai đứng trên hay ngang ông, Đại Tần là quốc gia thống nhất.

Nhưng ở thời Tây Sơn, lãnh thổ đã bị chia ba, không lập quốc hiệu riêng; tương tự như cách một ông Hội đồng địa chủ chia gia tài cho các con của mình; mỗi người một căn nhà, vài trăm công ruộng, tự sinh tự diệt; người nào tài giỏi thì có thể tạo lập sản nghiệp như ông cha; lười biếng thì sẽ tiêu hết sản nghiệp khiến cho tài sản ông bà để lại tiêu tán. Quốc gia thì không thể như vậy; quốc gia phải thống nhất, sức mạnh cộng hưởng từ tất cả các vùng đất trong cùng một đất nước tạo ra sức bật lớn cho sự phát triển. Và khi mà triều Tây Sơn thực hiện việc chia lãnh thổ như cách một ngài Hội đồng chia đất; thì kết quả là người con tài giỏi nhất Nguyễn Huệ mở mang được ra Bắc Hà trong khi người con yếu đuối nhất là Nguyễn Lữ lại để mất Nam Hà vào tay kẻ tử thù, cơ nghiệp từ đó mà mang họa diệt vong. Thế mới thấy được việc “trị quốc, bình thiên hạ” xử lý theo thói “tề gia” là cực kì nguy hại.

Tính chính thống của Tây Sơn: Tính chính thống là đến từ lòng dân; lòng dân công nhận thì mới được xem là chính thống. Triều Tây Sơn gặt hái một vài tích cực về phương diện chính thống khi nhận được sự thừa nhận từ nhà Thanh, quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực. Tuy nhiên, chỉ như thế thôi thì không đủ. Thời điểm Tây Sơn bắt đầu hoạt động, bối cảnh chính trị xã hội ở Đàng Trong lúc này khá nhiều rối ren. Các chúa Nguyễn không còn khả năng kiểm soát chính quyền, đại thần Trương Phúc Loan nổi lên như một nhân vật chính trị trung tâm của vũ đài chính trị Đàng Trong. Khác với Hồ Quý Lý hay Mặc Đăng Dung trước đây; Trương Phúc Loan tuy tiếm quyền nhưng không đủ khả năng khống chế đại cục, tranh giành vương vị. Ông ta chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực mua quan bán tước, tích trữ của cải. Và đó là thời cơ thích hợp để phong trào Tây Sơn nổ ra; khởi nghĩa nêu cao khẩu hiệu ủng hộ Hoàng Tôn Dương, đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan. Cần lưu ý ở đây là ngay từ đầu nguyên nhân khởi nghĩa là để ủng hộ chúa Nguyễn; Tây Sơn đã ngầm công nhận chúa Nguyễn là lãnh đạo hợp pháp của Đàng Trong, nhờ đó mà dân chúng đã hưởng ứng và đi theo nghĩa quân. Nhiều cánh quân khởi nghĩa ban đầu theo Tây Sơn do nghĩ rằng Tây Sơn phò chúa Nguyễn; nhưng sau này khi thấy Tây Sơn thẳng tay giết hại các chúa thì đã ly khai và chống lại, tiêu biểu như cánh quân Chu Văn Tiếp. Tây Sơn dùng ngọn cờ ủng hộ chúa Nguyễn để tranh thủ lòng dân, và khi đã có được thực quyền thì họ lại ra tay sát hại các chúa không thương tiếc; mồ mả chín chúa nhà Nguyễn đều bị quật lên, tro cốt ném xuống sông; tổ chức truy sát công khai con cháu nhà Nguyễn.

Đồng ý đã thay triều đổi đại thì không nên cải lương, hay mềm lòng; nhưng có chăng họ đã quá vội vàng. Giết hại các chúa Nguyễn là Tây Sơn đã bắt đầu tháo bỏ chiếc mặt nạ chính thống mà mình đã kì công đeo bấy lâu, điều này đã chạm sâu đến lòng trung thành của những người còn thờ chúa.

Lùi về lịch sử hơn ba thế kỷ trước, khởi nghĩa nông dân Lam Sơn của Lê Lợi trong những ngày tháng chiến đấu ác liệt cuối cùng, để có thể thỏa hiệp với Vương Thông, lập con cháu nhà Trần nối ngôi. Ông đã cho lập Trần Cảo – hậu duệ nhà Trần lên làm vua, bản thân mình giữ chức Vệ quốc công. Sau đó, Trần Cảo thân cô sức yếu, sợ bị giết phải bỏ trốn. Lê Lợi cho người đuổi theo, ép uống độc chết. Nhà Trần không còn con cháu, nghiễm nhiên vương vị thuộc về Lê Lợi. Cùng một bản chất, thủ đoạn ra tay đều tàn độc; nhưng Lê Lợi đã thực hiện có phần “tinh tế” hơn, ít bị điều tiếng. Có thể dẫn ra giả thiết rằng Quang Trung đã dự đoán được trước các mối nguy hại này và Ngài tự tin với khả năng của mình có thể dọn dẹp tất cả trong 10 năm hay 20 năm. Tiếc thay, người tính không bằng trời tính; Ngài ra đi quá sớm khiến những vấn đề Ngài đặt ra là một bài toán quá khó đối với ấu chúa Quang Toản.

Một vấn đề quan trọng khác: NGƯỜI HOA. Nói về Nam Hà; miền Nam trước đây vốn bao gồm đất đai của Chân Lạp và các vùng đất chưa được khai phá. Các bồ thần nhà Minh vì tránh nạn quân Thanh đã đến nương nhờ chúa Nguyễn, chúa giao cho họ khai dân lập ấp các vùng đất mới. Từ đây, đất đai Đàng Trong ngày càng được mở rộng hơn về phía Nam và hình thành nên cộng đồng người Hoa đông đảo, giàu có. Người Hoa không thể một mình chống giữ các vùng đất mới nên cần phải nương nhờ các chúa, trở thành thần tử của chúa Nguyễn tạo nên mối liên kết, đó có thể xem là một mối ân tình. Từ đó, người Hoa tại Nam Hà luôn trung thành với chính quyền chúa Nguyễn. Nhưng mọi thứ trở nên xáo trộn khi Tây Sơn tiến đánh Nam Hà. Họ cho quân lính phá tan các khu vực buôn bán giàu có của người Hoa như vùng Cù Lao Phố. Đỉnh điểm là việc Thái Đức cho thảm sát 1 vạn người Hoa tại Nam Hà để báo thù cho Phạm Ngạn, tướng thân cận của Thái Đức. Ra chiến trường, đồng đội hơn anh em; một đồng đội chết cả đội quân có thể xông lên báo thù. Tuy nhiên, đó chỉ là cảm tính của người lính. Đằng này, Nguyễn Nhạc đường đường là tổng tư lệnh chỉ huy ba quân mà lại cư xử theo kiểu tình cảm vụn vặt. Huống chi ra chiến trường, anh không chết thì tôi chết, cái chết của Phạm Ngạn là chiến tử nơi sa trường, sao có thể xem là bất công để rồi báo thù.

Hãy nhìn cách Nguyễn Ánh đối đãi với dân chúng Quy Nhơn khi Ngài chiếm được; Ngài thừa biết Quy Nhơn là đất tổ của Tây Sơn nhưng vẫn không tiến hành báo thù; ngược lại còn giảm bớt thuế má, yên ủi lòng dân, nhờ đó dẹp tan sự chống cự; để sau này Võ Tánh an tâm thủ thành Quy Nhơn cả năm trời trước sức tấn công vũ bão của Tây Sơn. Hành động thảm sát người Hoa của Thái Đức đã vĩnh viễn đẩy người Hoa về với Nguyễn Ánh. Ân tình của chúa Nguyễn và ân oán với Tây Sơn đã khiến người Hoa tại Nam Hà hết lòng ủng hộ Nguyễn Ánh cả về nhân lực lẫn vật lực; giúp cho Ngài có thể giành được thế đứng chân tại Nam Hà; tạo nền tảng để đánh bại Tây Sơn về sau.

Hạn chế thứ hai đến từ sự phân tán quyền lực và chia rẽ nội bộ. Đây chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Tây Sơn. Như đã nói ở trên, Tây Sơn thực chất giống một tập đoàn quân sự nhiều hơn là một vương triều chính thống. Mà đã là một tập đoàn thì sẽ bị lãnh đạo bởi nhiều cá nhân chứ không phải duy nhất. Nếu các cá nhân tài giỏi và đoàn kết thì tập đoàn sẽ mãi hùng mạnh, còn nếu chia rẽ hay tranh thủ lợi ích nhóm thì tất yếu sẽ suy kiệt. Có thể nhìn thấy trong thế giới thực tại với bằng chứng là tập đoàn Lotte của Hàn Quốc. Việc đấu đá quyền lực của cha con, anh em trong gia đình đã đẩy tập đoàn vào chỗ khốn cùng; các thành viên liên tục tố cáo lẫn nhau vô tình bóc mẽ nhiều sai phạm của Lotte trong mắt công chúng cùng với cơ quan tư pháp. Tây Sơn lúc mới thành lập là một nội bộ đoàn kết, lí tưởng (cướp của người giàu chia cho người nghèo) tuy nhiên sau khi giành được chính quyền dần bộc lộ sự tha hóa; lạm dụng vũ lực để giành quyền cai trị nhiều hơn là tranh thủ lòng dân; tiêu biểu là việc dùng vũ lực với người Hoa ở Nam Hà, điều này đã bị Nguyễn Ánh sau đó khai thác triệt để. Thái Đức ăn chơi hưởng lạc; chỉ bo bo giữ những gì mình có (trên cương vị là nhà sáng lập mà hành động như vậy thì sẽ tạo ra phản ứng không tốt đối với cấp dưới); nội bộ đánh giết lẫn nhau khiến dân chúng lầm than. Khởi đầu là tranh chấp giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Tây Sơn có hai trung tâm quyền lực chính là Quy Nhơn (Thái Đức) và Phú Xuân (Quang Trung, sau này là Cảnh Thịnh), đáng buồn là hai trung tâm này lại không vui vẻ gì; luôn phải đề phòng lẫn nhau. Đông Định Vương Nguyễn Lữ giữ Gia Định nhưng khả năng quân sự hạn chế, nhút nhát, chỉ cần kế ly gián nhỏ là đã bỏ chạy; Phạm Văn Tham phải một mình chống giữ và tất yếu mất về tay Nguyễn Ánh. Có thể thấy việc phân tán quyền lực đã làm cho sức mạnh Tây Sơn tại Gia Định yếu đi rất nhiều. Nếu chính quyền ở Quy Nhơn tập trung toàn lực hỗ trợ cho miền Nam thì chưa chắc Nguyễn Ánh đã dễ dàng tạo được thế đứng chân trên thành Gia Định. Nhưng không, Quy Nhơn đang còn bận đối đầu với “đại địch” Phú Xuân, hơi sức đâu mà giữ Nam Hà.

Sự chia rẽ nội bộ: ở đây có đến hai sự chia rẽ; chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân (chia rẽ trong Hội đồng quản trị) và chia rẽ giữa nội bộ tại Phú Xuân (chia rẽ trong Ban giám đốc). Chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân thể hiện ở việc Thái Đức lo sợ quân Phú Xuân tấn công nên chỉ lo phòng bị phía Bắc; từ chối hoặc hạn chế cứu viện cho chiến trường phía Nam. Thậm chí khi Quang Trung mất năm 1792, Thái Đức cũng không thể đi viếng do quân của Cảnh Thịnh ngăn giữ. Đỉnh điểm năm 1793, Thái Đức bị Nguyễn Ánh vây đánh Quy Nhơn đã cầu viện Phú Xuân giúp đỡ. Các tướng của Phú Xuân vận dụng “rất tốt” kế sách “Mượn đường diệt Quắc”; đánh lui quân Nguyễn xong sẵn chiếm luôn thành; việc làm này khiến cho Thái Đức uất hận mà chết. Sách lược này đã được các tướng Tây Sơn vận dụng không đúng lúc. Ngoại địch lúc này còn đang quá mạnh, chưa thể tiêu diệt mà lại gây ra tranh chấp lớn, mất đoàn kết nội bộ. Thực tế sau đó, các tướng lĩnh trung thành với Thái Đức đã bị nghi kị và giết hại; một số đã bỏ sang phe Nguyễn Ánh; điển hình là tướng Lê Trung - một trong những người tham gia tích cực chiến trường Nam Hà - trước đây theo Nguyễn Nhạc đã bị giết chết, con trai (có tài liệu nói con rể) là Lê Chất phẫn nộ mà bỏ sang phe Nguyễn Ánh, thông báo nội tình thủy quân Tây Sơn cho Nguyễn Ánh biết. Tướng Phan Văn Lân đang canh giữ biên giới phía Bắc sau khi nghe tin đã bất mãn mà bỏ đi. Việc phân biệt giữa những người theo Thái Đức và những người theo Cảnh Thịnh đã làm nội bộ Tây Sơn thêm xào xáo, ám hại lẫn nhau ngày càng nhiều và dần suy yếu.

***

Bây giờ là câu chuyện về những ngày đánh nhau của Tây Sơn sau khi Quang Trung mất.

Ngoại thích Bùi Đắc Tuyên nắm quyền hành. Để nói về tầm của Bùi Đắc Tuyên thì có thể kể đến việc: trong yến tiệc, vì muốn mua vui cho Thái tử Quang Toản mà Bùi Đắc Tuyên đã yêu cầu hai võ tướng giỏi côn pháp là Võ Đình Tú và Đặng Văn Long thi tài đấu côn. Hai tướng đành miễn cưỡng ra thi đấu. Sau vua Quang Trung biết được sự việc đã lên tiếng quở trách và nghiêm cấm không được tái diễn. Có thể thấy nhân vật này là người rất có “tài” làm chia rẽ nội bộ. Năm 1794, danh tướng Lê Văn Hưng sau khi mang quân đánh Phú Yên, đã hợp sức với Nguyễn Quang Huy (tướng của Thái Đức) chiếm lại được từ tay quân Nguyễn. Sau đó Hưng giao cho Nguyễn Quang Huy giữ rồi rút về. Bùi Đắc Tuyên nhân đó xàm tấu với Cảnh Thịnh rằng Hưng có ý phản nghịch (cấu kết với phe Quy Nhơn) nên bắt giết; Tây Sơn vì thế mất một tướng tài.

Chưa dừng lại, Võ Văn Dũng đang ở Thăng Long cũng bị Tuyên triệu tập về Phú Xuân hòng kiềm chế. Trên đường về Võ Văn Dũng đã gặp Trần Văn Kỷ (đang bị Tuyên lưu đày) nên biết sớm thông tin và ra tay trước. Võ Văn Dũng huy động các tướng lĩnh bắt giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tiện tay triệu hồi Ngô Văn Sở ở Thăng Long về xử chết vì cho rằng Sở thuộc phe của Tuyên. Cuộc thanh trừng nội bộ này khiến cho Trần Quang Diệu dù đang tiến quân rất thuận lợi ở Diên Khánh cũng phải rút về để giải quyết, về đến Phú Xuân suýt nữa là đánh nhau với Võ Văn Dũng. Liên tiếp về sau; Tây Sơn liên tục rơi vào tranh đấu nội bộ, lạm dụng quân đội để giải quyết mâu thuẫn. Các tướng tự lập phe phái, xàm tấu lẫn nhau, không coi trọng ấu chua. Về phần mình, Cảnh Thịnh sợ uy quyền lớn mạnh của các tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú,..nên đã tìm cách chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các tướng. Có thể nói Tây Sơn từ lục đục chìm sâu hơn vào khủng hoảng nội bộ; ấu chúa chẳng những không thể giải quyết mà còn tiếp tay thêm vào quá trình mâu thuẫn. Một Tây Sơn lục đục nội bộ, mất lòng dân đối đầu với một Gia Long đang hừng hực khí thế, quân đội hùng mạnh. Cán cân cuộc chiến đã bắt đầu có sự dịch chuyển.

Về Quang Toản: Vua Quang Trung có thể không nhìn sai về Quang Toản; nhưng Ngài không thể thắng được thời gian. Nếu Quang Trung có thể sống lâu hơn 10 hay 20 năm thì biết đâu rằng Ngài có thể đào tạo Quang Toản thành một minh chúa. Trước khi mất, Ngài còn đánh giá: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!”.

Từ những gì vua nói lúc lâm chung có thể mang đến cho chúng ta nhiều vấn đề. Thứ nhất, Ngài lo lắng về việc Quang Toản còn quá nhỏ để có thể điều hành công việc; điều này đã quá hiện hữu. Thứ hai, Quang Trung nhìn nhận quân Gia Định của Nguyễn Ánh là thế lực nguy hiểm nhất vào thời điểm hiện tại. Ngài đã dự định huy động một đội quân hùng hậu vào Nam, quyết tâm tiêu diệt kẻ đại thù. Một kế hoạch vô cùng chu đáo; chặn đứng mọi con đường sang Xiêm hay ra biển của Nguyễn Ánh; Quang Trung thực sự đánh giá rất cao Gia Long. Điều đó càng thể hiện rõ khi ban đầu Ngài dự định một kế hoạch khổng lồ chủ động tấn công vào sào huyệt kẻ thù; nhưng khi đổ bệnh Ngài chỉ yêu cầu Trần Quang Diệu phải tập trung toàn lực giúp Quang Toản dời đô về Nghệ An, chuyển hoàn toàn sang thế thủ. Ngài đánh giá được rằng ngoài bản thân mình ra thì Tây Sơn không còn ai đủ khả năng dẫn quân vào Nam đương đầu với Nguyễn Ánh. Trong khi Phú Xuân lại không phải là nơi dễ phòng thủ so với sức mạnh thủy quân nhà Nguyễn. Tiếc thay, không một ai trong Tây Sơn làm theo lời yêu cầu cuối cùng của nhà vua.

Sự chênh lệch tầm nhìn cũng như năng lực giữa Quang Trung và cấp dưới quá rõ rệt tạo ra một lỗ hổng lớn khi Ngài mất. Thiếu Ngài, tác chiến không có định hướng, rối bời. Trước đây, thủy quân Tây Sơn dù yếu hơn; nhưng nhờ có Quang Trung chỉ huy, họ vẫn anh dũng đánh bại thủy quân của Gia Long. Giờ đây, mọi chuyện đã khác; quân chủ lực Tây Sơn do Trần Quang Diệu nắm giữ đánh rất khá nhưng không giành được thắng lợi quan trọng, chỉ làm tròn vai chứ không gây đột biến. Võ Văn Dũng giỏi chính trị, ngoại giao nhưng cầm quân không tốt, liên tục bại trận, nướng hết thủy quân. Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết co cụm phòng thủ, không đóng góp được gì nhiều. Lê Văn Hưng, Lê Trung, Ngô Văn Sở đều đã bị giết. Giới văn nhân hoàn toàn bị đặt ra ngoài vòng chiến, Ngô Thì Nhậm tham gia chiến trường hạn chế. Quân Tây Sơn tác chiến theo kiểu dập lửa; cháy đâu dập đó; không ngăn được đám cháy lan tỏa.

Điểm sáng duy nhất trên chiến trường có lẽ là Nguyễn Quang Huy, thân yếu thế cô nhưng liên tục khuấy đảo bên trong lòng địch. Tuy nhiên; tất cả đều là không đủ. Tây Sơn sụp đổ như một vấn đề tất yếu.

Lời kết:

Cái chết của Vua Quang Trung luôn là một điều tiếc nuối lớn của lịch sử. Tuy nhiên, sự sụp đổ của Tây Sơn thì chưa hẳn. Họ đã quên đi cách thu phục lòng dân mà mải mê đấu đá nhau. Nếu lòng dân nhìn Nguyễn Ánh với sự xấu xa, thì cớ sao Nam Hà chưa bao giờ quên ngài? Việc bỏ quên lòng dân khi lên đến đỉnh cao danh vọng là hạn chế cuối cùng nhưng đấy là hạn chế lớn lao mang tầm vĩ mô nhất.

Nguyễn Trãi đã từng nói: “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước, nước có thể chở thuyền nhưng nước cũng có thể lật thuyền được.”

Trên một bình diện nào đó, với những hạn chế của Tây Sơn ta lại thấy được cái chính trị toàn diện của Gia Long Nguyễn Ánh.

Rất nhiều người tiếc, nhưng cũng có thể chưa hẳn đã tiếc. Chỉ biết rằng lịch sử đã chọn Gia Long thay vì Quang Trung.

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Lời dẫn: Bài viết này là của Nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An viết trên trang Khám Phá Huế (khamphahue.com.vn) nhưng giờ không tìm lại được nữa. Vậy nên có một số nơi đăng lại, như trang Nghiên cứu Quốc Tế (nhưng bị chặn, không truy cập bình thường được) hoặc VTC News (nhưng rất nhiều còm sặc mùi nhồi sọ, đọc rất khó chịu).

Vậy nên re-post ở đây để đọc lại khi muốn, ngoài ra có thể tham khảo thêm thread này để hiểu rõ hơn về Tây Sơn (và cũng để không tin SGK Lịch sử của VN 😢😢😢).

Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh
(tranh do Viet Toon vẽ lại từ di ảnh)



Đôi nét lịch sử

Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.

Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó – vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).

Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.

Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài” (Thực lục I, tr.531).

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân” (Thực lục I, tr.532,533).

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.

Phẩm bình của lịch sử

Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?

Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết: “Vậy mà Nã Phá Luân [Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm; còn Quang Trung: mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”.

Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc” (tr.240).

Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao:

Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.

Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.

Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã. Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê.

Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.

Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.

Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc. Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?

Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.

Trăm năm bia đá thời mòn

Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết. Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:

“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65)

Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra.

Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại).

Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hồ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong.

Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.

Câu hỏi đặt ra

Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.

Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4) .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời” (Thực lục I, tr.508).

Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).

Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…).

Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh:

“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta’. Bèn sai quan quân đưa về” (Thực lục I,tr.445).

Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544).

Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt, chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?

Sự thật là đây

Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:

“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445).

Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.

Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” (5) (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ: thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẽ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.

Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.

Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):

“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.

Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.

Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.

Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho” (Thực lục I, tr.466).

Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:

– Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
  1. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613); 
  2. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); 
  3. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); 
  4. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) 
  5. Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691); 
  6. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725); 
  7. Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738); 
  8. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765); 

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

– Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.

Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)” (tr.193).

Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.

Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).

Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.

Một vài cảm nghĩ

Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.

1/ Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen.

Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.

2/ Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời.

Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng” là gì?

“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”. Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.

Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành.

Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân. Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.

3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời”.

Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên.

Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sử dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.

Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).

Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao: Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau.

Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!

Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?

Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.

Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).

Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

————

Chú thích:

(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính Dần) vua mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.

(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up

(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận:

“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử.
Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” - Báo Thể thao - Văn hoá

(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thoát ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

(5) “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời” (Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532).

Nguyễn Ánh - Gia Long: Kẻ tội đồ hay vĩ nhân lịch sử?

© Trần Cao Sơn - Tạp chí Sông Hương

Những lỗi lầm của Nguyễn Ánh là rất lớn và đáng lên án, nhưng vẫn có thể coi ông là một vĩ nhân lịch sử, một thực thể tất yếu của lịch sử Đại Việt. Trong danh mục những minh vương dựng nghiệp lớn, có cả tên ông.

Một bức hình chân dung Vua Gia Long - Nguyễn Phúc Ánh



Triều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt.

Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó.

Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan. Gắn với triều Nguyễn là Nguyễn Ánh - Gia Long, người kế tục sự nghiệp các Chúa Nguyễn tiền bối - người lập nên vương triều nhà Nguyễn - vương triều cuối cùng của nền đế chế phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam.

I. Nguyễn Ánh: một ẩn số của lịch sử

1. Vào lửa

Nhìn nhận về con người này, thật không đơn giản, là một núi mâu thuẫn, mâu thuẫn do chính cuộc đời ông tạo ra, mâu thuẫn của hoàn cảnh lịch sử và đặc biệt, từ đó tạo ra mâu thuẫn của dân tộc với sự đa dạng trong cách nhìn, cách nghĩ được sản sinh tự nhiên từ ngàn vạn sự kiện thực hư, chính đáng và không chính đáng.

Nếu không thật sự khách quan và chiêm nghiệm theo nhiều chiều cạnh, lát cắt của lịch sử, soi xét từ gần đến xa, từ sau đến trước, chủ thể và khách thể, hoá thân vào nhiều vị trí để có góc nhìn trọn vẹn, hoặc luôn bị kiềm toả bởi một định kiến chủ quan, thủ cựu thì thật khó thoát mình ra khỏi những sai lầm trong cách nhìn nhận vấn đề.

Nguyễn Ánh được sinh thành trong một xã hội nhiều xáo trộn; xáo trộn về thế lực, quyền bính, mâu thuẫn về quan niệm. Những nghệ thuật, thao lược dành chiến thắng trong cuộc sàng lọc khắt khe đã đạt đến đỉnh cao. Đánh giá về ông cũng phong phú, đa chiều và tràn đầy mâu thuẫn.

Trong lịch sử vương quyền, chưa một vị vua nào như Nguyễn Ánh, trước khi ngồi trên ngai vàng, cuộc đời và sự nghiệp lại nhiều gian lao và thách đố đến như vậy, cũng chưa thấy ai đầy lòng kiên nhẫn để mưu nghiệp lớn như ông. Hơn hai mươi năm lăn lộn, cận kề cái chết, nhưng ông vẫn vươn lên giành được thắng lợi cuối cùng. Mệnh trời đã mỉm cười với ông. Ông đã chiến thắng.

Chúng ta tự hào vì chúng ta có Nguyễn Huệ Quang Trung, thì đồng thời chúng ta cũng không thể lãng quên Nguyễn Ánh hoặc tuỳ tiện đánh giá về con người này. Hai thế lực, hai trận tuyến, là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng hai con người này đều là thực thể Việt Nam.

Mỗi người trong họ đã tạo cho người còn lại một môi trường của sự thử sức, lòng can đảm và sự khôn ngoan để đoạt chiến thắng từ tay đối phương. Đây là hai mặt trong một thể thống nhất biện chứng; mỗi người đều là căn cứ để đánh giá và nhìn nhận người kia.

Quang Trung và Gia Long là hai kẻ thù không đội trời chung

Những tài năng trác tuyệt thiên bẩm của Nguyễn Ánh là không thể phủ nhận. Mười lăm tuổi (1777) cầm quân, xông pha trận mạc, quyết định những chiến thắng quan trọng và là linh hồn của các thế lực Đàng Trong. Mười tám tuổi (1780), qua những năm tháng thử lửa, ông đã chính thức được tôn vinh làm Chúa Nguyễn - Nguyễn Vương.

Sài Gòn - Gia Định trở thành thủ đô trong thánh địa của triều đại ông. Sự nghiệt ngã của hoàn cảnh chính là lò bát quái, là nơi tinh luyện kim đan để kẻ tu hành đắc đạo? Trong sự va đập lịch sử thì lịch sử cũng biết tự chọn lựa. Một người đã đi đến đích, đã chiến thắng ở trận cuối cùng, đó là Nguyễn Ánh.

2. Sự mỉm cười của định mệnh

Đất thánh Gia Định và sự che chở của các thế lực phong kiến

Nguyễn Huệ - Tây Sơn dấy binh với danh nghĩa hình thức là tiêu diệt tập đoàn tiếm quyền Trương Phúc Loan, được nhân dân hưởng ứng. Với thiên tài cầm quân, Nguyễn Huệ và anh em Tây Sơn đã nhanh chóng đánh đổ vương triều chúa Nguyễn và buộc họ phải chạy vào Gia Định.

Việc tìm mảnh đất Gia Định giàu tiềm năng làm nơi ẩn náu, mai phục, mưu kế lâu dài cũng là một nước tính chiến lược. Trong con mắt của các thế lực đại địa chủ, thương nhân Sài Gòn - Gia Định đương thời thì Nguyễn Ánh và chúa Nguyễn mới thực sự là người đaị diện. Họ đã ra sức che chở bảo vệ.

Thành Gia Định, nơi chúa Nguyễn chạy vào ẩn náu khi bị Tây Sơn đánh đuổi. (Ảnh: Wikimedia)

Nguyễn Ánh là chúa Nguyễn, là trực hệ của Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng; họ là hậu duệ chính đáng của những thế lực được sinh thành và phát triển qua những thách thức từ Vua Lê - Chúa Trịnh trên kinh đô Thăng Long. Họ đã đủ tầm sánh ngang với Chúa Trịnh để quyết định vận mệnh đất nước.

Từ khi Nguyễn Hoàng cai trị phương Nam rồi tiếp đến là: Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tấn, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Khoát, nhìn chung đều là những minh vương.

Duy có Nguyễn Phúc Thuần do còn quá bé (12 tuổi) bị rơi vào vòng kiềm toả của Trương Phúc Loan. Trong con mắt người dân các tỉnh phía nam lúc đó, mà tiêu biểu là giới quý tộc Gia Định thì Chúa Nguyễn là người đại diện chân chính.

Với hơn 200 năm tồn tại kế từ khi Nguyễn Hoàng gây dựng cơ nghiệp, các thế lực phong kiến cát cứ và bản địa như Vương quốc Phù Nam, Vương quốc Chămpa đều đã bị quy về một mối, sự tồn tại chỉ mang tính hình thức.

Chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế văn hoá các vùng phía nam mà các thế kỷ trước đó vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu hoặc luôn bị sự khống chế của ngoại bang, điển hình là Chân Lạp và Xiêm La. Sự lớn mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế của Nam Bộ gắn với lịch sử tồn tại của chính quyền trung ương tập quyền lúc đó: tập đoàn chúa Nguyễn.

Chúa tiên Nguyễn Hoàng, người đã đưa gia đình vào Nam gây dựng cơ đồ nhà Nguyễn

Sau khi ý đồ đánh đổ chúa Nguyễn của anh em Tây Sơn đã lộ rõ, cộng với sự bất hoà quyền bính trong nội bộ phong trào, thì lập tức các thế lực thân tín đã quay lại bảo vệ Nguyễn Ánh và chống lại Tây Sơn, một sự chống cự quyết liệt.

Trong quá trình tồn tại, bên cạnh những thành tựu vĩ đại do Nguyễn Huệ tạo nên, đó là những chiến công hiển hách chống quân xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, tiến hành những cải cách kinh tế văn hoá, thì đồng thời những nhược điểm trầm kha của các thế lực khởi nghĩa mang nặng tính nông dân thường mắc phải cũng đã hiện ra trong nội bộ Tây Sơn ngày càng trầm trọng, trầm trọng đến mức không phương cứu chữa.

Nguyễn Nhạc là sự hiện thân của sự bất cập này. Chính những mâu thuẫn đó đã tạo cho các thế lực phong kiến Phương Nam nhìn nhận lại và quyết tâm ủng hộ Nguyễn Ánh đến cùng.

Những trở ngại lịch sử mà Nguyễn Huệ chưa kịp khắc phục

Những mâu thuẫn trong Tây Sơn xuất hiện mạnh ngay sau khi Nguyễn Huệ tiến quân Bắc Hà lần thứ nhất tiêu diệt chúa Trịnh. Nguyễn Nhạc đã tức tốc ra tận Thăng Long triệu hồi Nguyên Huệ trở về Phú Xuân, bỏ lại một Thăng Long hỗn độn, quân hồi vô phèng với một đống quan lại và sĩ phu khủng hoảng lòng tin và phương hướng.

Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm đầy lòng trắc ẩn, muốn thoát khỏi sự kiểm soát của Nguyễn Huệ, tranh bá đồ vương. Để rồi từ đó xô đẩy kẻ tiểu nhân bất tài Lê Chiêu Thống phải chạy sang cầu cứu Nhà Thanh và đẩy tình hình đất nước đến bên bờ vực thẳm.

Nguyễn Huệ đã "thần tốc" kéo quân ra Bắc diệt quân xâm lược Mãn Thanh, bảo vệ độc lập dân tộc

Khi quân Thanh kéo vào xâm lược, vận mệnh độc lập dân tộc trở thành nhiệm vụ lớn nhất mà ở bất kỳ triều đại nào, giai đoạn lịch sử nào cũng phải đặt lên hàng đầu. Chính vì thế khi đăng quang hoàng đế với niên hiệu Quang Trung tiến ra bắc tiêu diệt quân Mãn Thanh, Nguyễn Huệ đã dành được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân cả nước, mà nhất là nhân dân Bắc Hà.

Nguyễn Nhạc cũng không thể chống đối, không thể đi ngược quy luật. Nguyễn Huệ và nhân dân ta đã thắng lợi. Cuộc đại phá quân Thanh toàn thắng, uy tín và sức mạnh Tây Sơn lớn mạnh vượt bậc, ở thế quyết định bước phát triển mới của dân tộc.

Nhưng một trở lực khó vượt qua được đó là những mâu thuẫn trong nội bộ Tây Sơn ngày càng trầm trọng, nhất là khi phải đối đầu với những vấn đề trong nước. Nguyễn Nhạc thu mình trong thành Quy Nhơn với tư cách Đông Định Vương, không muốn đối mặt với những thách thức mới, lại cũng không muốn Nguyễn Huệ vượt lên trên ảnh hưởng của mình. Nguyễn Lữ thì bất lực.

Sức mạnh đoàn kết của ngày đầu dựng nghiệp đã tan biến và nhường chỗ cho những điểm yếu mà kẻ thù không ngừng lợi dụng, khoét sâu. Thực chất đây là mâu thuẫn của các thế lực phong kiến cát cứ, phân quyền.

Liệu trong tình hình ấy, Nguyễn Huệ có đủ can đảm và nghị lực vươn lên trên tất cả, loại trừ Nguyên Nhạc và Nguyễn Lữ ra khỏi sân khấu Tây Sơn để tự mình vươn tới mục đích cuối cùng hay không? Điều đó thật khó. Khó vì chính Nguyễn Huệ cũng chưa đủ sức vượt qua những ràng buộc của tình huynh đệ thủ túc sống chết có nhau gây dựng cơ đồ trong buổi đầu của cuộc kháng chiến.

Nguyễn Huệ thu phục được cả những sĩ phu Bắc Hà từng làm quan dưới triều Lê - Trịnh như Ngô Thì Nhậm (người ngồi trong ảnh)

Thêm nữa, Nguyễn Nhạc, cũng nắm trong tay một lực lượng hùng hậu, cả về cơ sở vật chất, cả về thanh thế đang có, và đặc biệt là quân sự. Nếu Nguyễn Huệ phát động cuộc chiến tranh quy mô để loại Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ thì những tổn thất tổng hợp mà Nguyễn Huệ phải lãnh chịu là không nhỏ, sẽ tự đánh mất chính mình trước dân tộc, cả uy tín và lực lượng.

Đó là bài toán cần có lời giải và nghiệm số thoả đáng, và cũng vì vậy Nguyễn Huệ phải chờ đợi thời cơ phù hợp. Kể từ khi đại phá quân Thanh năm1789 kết thúc, trong hơn ba năm trời chuẩn bị, lực lượng của Nguyễn Huệ vô cùng hùng mạnh, nhưng đến năm 1792 khi ông đột ngột qua đời lực lượng hùng hậu ấy vẫn không phát huy được ưu thế.

Cái chết của Nguyễn Huệ đã đẩy triều đình Phú Xuân vào tình trạng khủng hoảng. Một triều đình và một lực lượng quân sự khổng lồ, một cỗ máy chiến tranh quy mô lớn không có người cầm lái tương thích là Nguyễn Huệ thì sức mạnh ấy trở thành một sự bị động. Bên cạnh đó sự tồn tại của Nguyễn Nhạc và thủ phủ Quy Nhơn vẫn nặng sức kiềm toả.

Nguyễn Ánh bắt tay với các giáo sĩ Phương Tây nhằm tìm kiếm sự ủng hộ đã góp phần tăng thêm những ưu thế vật chất, kỹ thuật cho cuộc chiến tranh mà ông ta đang theo đuổi. Cũng chính vì vậy cuộc phản kích của Nguyễn Ánh đã phát huy cao độ tính hiệu quả. Chỉ trong vòng mười năm vừa cầm cự vừa rút lui, năm 1802, toàn bộ sự nghiệp Tây Sơn đã hoàn toàn sụp đổ.

Nhìn lại thế trận và kết cục của Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh trong cuộc giao tranh lịch sử, khiến chúng ta liên tưởng đến những sự kiện lịch sử khác với những diễn biến và kết cục thật bất ngờ mà nhiều ẩn số của nó phải hàng thế kỷ mới đủ sức giải đáp.

Chân dung vua Gia Long

Cuộc nổi dây khởi nghĩa của Phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc một thế kỷ sau đó do Hồng Tú Toàn khởi xướng đã nhanh chóng dành được sự ủng hộ của nhân dân. Với khẩu hiệu Tiêu diệt Nhà Thanh, Khôi phục Nhà Hán, cuộc khởi nghĩa đã lan rộng khắp, Nam Kinh trở thành thủ đô của phong trào.

Nhưng rồi chính lúc phong trào lên đỉnh cao, tưởng như chiến thắng cuối cùng đã đến, chỉ còn tính theo ngày tháng, thì cũng là lúc mầm mống của sự thất bại và diệt vong đã xuất hiện. Cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc thực sự là chưa giành được chính quyền vì chính quyền vẫn nằm trong tay Mãn Thanh ở Bắc Kinh, còn Nam Kinh chỉ là thủ đô tạm thời và chính quyền chỉ là do các lãnh tụ lập nên tự xưng vương, xưng đế.

Mới đến đó thôi thì những mâu thuẫn trong phong trào đã trầm trọng và khả năng đưa cuộc khởi nghĩa đến toàn thắng là không còn nữa. Hồng Tú Toàn thu mình ở vị trí hoàng đế, bằng lòng với những gì đã đạt được. Dương Tú Thanh thì cậy công lộng quyền, dùng phép ma thuật xảo trá hãm hại và hạ uy tín lãnh tụ. Những tư tưởng thoả mãn, hưởng lạc, chia bôi và tranh giành quyền lực đã báo hiệu sự suy vong tất yếu.

Trước con mắt của người dân Trung Quốc lúc đó, giành lại quyền cai trị đất nước cho đại đa số các dân tộc Hán là một nguyện vọng, nhằm tạo lập lại nền văn minh Hán mà mấy thế kỷ đã bị tha hoá. Song điều cốt tử là lực lượng ấy có đại diện cho dân tộc Trung Hoa hay không? Câu trả lời mà thực tế của cuộc Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc mang lại sau nhiều năm hiện diện là: Không.

Dù thế nào đi nữa, triều đình Mãn Thanh vẫn là người đại diện hợp pháp. Trải qua mấy trăm năm cai trị, triều Mãn Thanh đã xây dựng được một đế chế độc quyền bền vững. Mọi hành vi cát cứ, phân quyền, tranh bá đồ vương ngoài chuẩn mực đều không có cơ may tồn tại.

Lăng vua Gia Long. (Ảnh: Wikimedia)

Ta tìm thấy gì trong cái bế tắc, nửa vời và đầy đố kỵ của Hồng Tú Toàn trong Thái Bình Thiên Quốc với những tư tưởng và hành động tương tự của Đông Định Vương Nguyễn Nhạc và Tây Bình Vương Nguyễn Lữ?

Đương nhiên người bất hoà với Nguyễn Nhạc là Nguyễn Huệ lại hoàn toàn không giống những kẻ đố kỵ tranh giành với Hồng Tú Toàn. Nguyễn Huệ đã đặt lợi ích đất nước lên trên, đi đúng quy luật phát triển. Nhưng, khủng hoảng nội bộ bao giờ cũng mang một mẫu số chung, đó là sự rạn nứt và tự làm suy yếu mình để từ đó đối phương lợi dụng khai thác.

Nhất là khi sự khủng hoảng ấy được sản sinh từ lãnh tụ tối cao của Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và kẻ thù lại là Nguyễn Ánh đang có sự trợ giúp của vũ khí và lối tác chiến hiện đại của nhiều chuyên gia Phương Tây. Hoá giải tình hình phức tạp này là một việc làm lớn lao đặt trên vai Nguyễn Huệ.

Sự may rủi của định mệnh

Nguyễn Ánh đã trải qua những nguy hiểm tày núi, cái chết cận kề, thế rồi ông lại thoát. Cái may mắn có được của ông là cái rất hiếm hoi mà người đời khó bắt gặp. Trong suốt mấy mươi năm lăn lộn, hòn tên mũi đạn không bắt kịp ông, bệnh tật hiểm nghèo không gõ cửa buồng ông. Ông vẫn được trời cho sống, sống khoẻ mạnh.

Chỉ cần một sự sa sảy nhỏ nhoi cũng có thể tạo ra biến cố khôn lường. Nhưng ông vẫn vô sự. Đó là điều kỳ diệu. Nguyễn Huệ không được cái may mắn này khi tử thần đã bất ngờ nắm lấy mệnh ông ở tuổi ngoài bốn mươi đầy sung mãn với những triển vọng huy hoàng đang chờ phía trước.

Nguyễn Huệ ra đi lúc cơ đồ còn dở dang

Trong quy luật thuận nghịch mà người xưa đúc kết, thì trong cái thuận có cái nghịch, trong cái nghịch chứa cái thuận. Cái thuận càng lớn thì cái nghịch càng cao, và đồng thời cái nghịch càng cao thì cái thuận cũng càng lớn. Đối với những kẻ kinh bang tế thế là phải biết biến cái nghịch lớn thành cái thuận lớn và biến cái thuận lớn tiếp tục lớn lên không ngừng. Với một điều kiện tuyệt đối: Phải được sống.

Những chiến công của Nguyễn Huệ to lớn đến vậy, những cuộc vây ráp của ông với quân Nguyễn Ánh cũng rất quy mô và bài bản suốt hàng chục lần, nhưng rồi cuối cùng vẫn không đạt được mục tiêu. Nguyễn Ánh vẫn thoát.

Những truyền thuyết dân gian như Nguyễn Ánh có trời giúp, nổi phong ba ngăn chặn Tây Sơn; hay rắn thần xuất hiện đưa ông đến nơi an toàn trong lúc lâm nguy trên đảo Thổ Châu... được lưu truyền tận về sau cũng xuất phát từ những sự thật kỳ diệu đến mức khó tin này.

Người có thể làm thay đổi tình thế của Gia Long chỉ là Nguyễn Huệ, duy nhất Nguyễn Huệ, không có ai khác. Không Nguyễn Huệ thì tất phải còn Nguyễn Ánh. Đáng tiếc cho phong trào Tây Sơn và cũng là cho cả dân tộc, Nguyễn Huệ đã ra đi đột ngột và lịch sử bước sang một giai đoạn mới, đó là Nguyễn Ánh quyết định vai trò trên sân khấu lịch sử.

Nguyễn Huệ trồng cây. Gia Long hái quả. Âu cũng là mệnh trời.

II. Gia Long và Triều Nguyễn - Một thực thể Đại Việt


1. Nguyễn Ánh và những bước đi táo bạo


Linh mục Bá Đa Lộc, người đã hỗ trợ đắc lực cho vua Gia Long. (Ảnh: Wikimedia)

Trong lịch sử Việt Nam thì Nguyễn Ánh là người đầu tiên có quan hệ hợp tác với phương Tây khá toàn diện và có bài bản trên các phương diện: Quân sự, ngoại giao, kinh tế và chính trị mà trước đó chưa một nhân vật lịch sử nào với tới.

- Ký hiệp ước giao hảo với Pháp

- Mua vũ khí của Pháp

- Cho Pháp những đặc ân nhất định trong khu vực thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Ánh.

Trước hết, những việc làm trên đây của Nguyễn Ánh đã thể hiện mấy bản chất sau đây

- Nguyễn Ánh đã nhận ra ưu thế kinh tế, kỹ thuật và quân sự từ các nước phương Tây xa xôi. Những cái phương Tây đang có là những cái cần thiết đối với tình hình lạc hậu mà ông đang phải gánh chịu và cần tạo cơ hội để có đựoc ưu thế đó, nhất là trong cuộc chiến một mất một còn với Nguyễn Huệ Quang Trung.

- Ý chí phục thù và giành chiến thắng bằng mọi giá.

Nguyễn Huệ là con người ứng xử tình thế tuyệt vời. Vì độc lập dân tộc, ông đã tiến hành cuộc đại phá thần tốc quân Thanh, một chiến thắng kỳ diệu, chứa đựng nhiều kịch tính, như một bức hoành phi nghệ thuật cổ kim hiếm thấy.

Chỉ trong mấy ngày mà ba chục vạn quân Thanh đã bị đánh tan. Tôn Sĩ Nghị tháo chạy không kịp thắng yên cương. Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Hứa Thế Hanh chết trận... Bằng chiến thắng này, bờ cõi sạch bóng ngoại xâm.

Nguyễn Huệ là thiên tài trong cả quân sự và ngoại giao

Nhưng chỉ ngay sau ngày chiến thắng, ông đã tiến hành chính sách giao hảo với triều đình Mãn Thanh. Những nước đi của ông táo bạo, độc đáo, thần kỳ như một mê hồn trận. Chính quan quân nhà Thanh và Càn Long tài hoa cũng không đủ sức nhận ra, cương nhu lẫn lộn, cái nhường nhịn và cái đe doạ cuộn chặt trong cùng một khối của mỗi nước cờ ngoại giao, không biết đâu mà lần.

Vì thế cuối cùng, để cho an toàn, Càn Long cầm bằng chấp thuận xây dựng mối quan hệ hữu hảo với Quang Trung, không động binh và nhanh chóng loại bỏ tàn quân Lê Chiêu Thống ra khỏi ván cờ phương nam của họ.

Dẹp yên phía bắc, ông giành thời gian và lực lượng cho mặt trận phía Nam với quan quân Nhà Nguyễn trong trận quyết đấu và quyết thắng cuối cùng. Nếu so với những đối sách của Nguyễn Huệ thì các nước đi trên thế trận của Nguyễn Ánh cũng phức tạp và đa dạng khôn lường.

Trước một Châu Âu xa xôi, khác lạ về địa lý, ngôn ngữ, nhân chủng, văn hoá, khác lạ một trăm thứ, thế mà Nguyễn Ánh dám bắt tay giao hảo. Thật cũng là một sự táo tợn độc nhất vô nhị. Chỉ có Nguyễn Ánh mới đủ sức làm nổi chuyện tày đình này.

Trong suốt nhiều năm đánh nhau với Tây Sơn, bên cạnh Nguyễn Ánh có một đội ngũ các chuyên gia kỹ thuất, quân sự rất có kinh nghiệm như Dayot, Philippe Vannier, Guilloux, Laurent Barisy, De Forssant, Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de Puymanel, Theodore lebuen. Tiêu biểu nhất trong số đó là Pierre Joseph George Pigeau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc).

Theo tài liệu của Thực Lục Chính biên chép lại thì năm 1791, Nguyễn Ánh đã thông qua một người nước ngoài tên là Budinonhi gửi mua tại Bồ Đào Nha một vạn súng điểu thương, hai nghìn cỗ súng gang mỗi cỗ nặng một trăm cân, hai nghìn viên đạn nổ đường kính 10 tấc.Trong các cuộc giao chiến với Tây Sơn sau này, Nguyễn Ánh toàn dùng loại vũ khí hiện đại này.

Chính sự mẫn cảm của Nguyễn Ánh đã gây nên nhiều xáo động trong cách nghĩ của các sĩ phu sau này. Có nhiều ý kiến còn cho rằng, nếu các bậc hậu thế như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức biết học tập và kế nghiệp những tinh hoa của Nguyễn Ánh trong mối bang giao với phương Tây thì có thể cơ may lớn đã mỉm cười với dân tộc, rất có thể chúng ta đã văn minh hơn, cường thịnh hơn và không phải trở thành mục tiêu nổ súng thôn tính của Pháp ở nửa sau thế kỷ mười chín như nó đã diễn ra.

Dù đấy chỉ là một sự nuối tiếc, một ảo tưởng không thực tế, nhưng chí ít cũng để lộ một điều các hành động hợp tác với phương tây của Nguyễn Ánh do Bá Đa Lộc làm trung gian âu cũng là đúng quy luật và không mang bản chất bán nước; nó nằm trong thời kỳ và một nhiệm vụ lịch sử khác.

2. Nên nhìn vấn đề ở nhiều góc độ

Âm mưu mở rộng ảnh hưởng nhằm thôn tính các quốc gia phương Đông đã thể hiện khá rõ, trong đó Pháp cũng là nước điển hình. Song trong trường hợp cụ thể của Nguyễn Ánh thì lại chưa hoàn toàn như vậy.

Bản đệ trình của Nguyễn Ánh do Bá Đa Lộc soạn thảo gửi chính phủ Pháp với những điều khoản cụ thể có lợi cho Pháp, lại kèm theo đứa con trai cưng như là vật làm tin thể hiện rất rõ quyết tâm của Nguyễn Ánh. Vì lý do gì không biết, chính phủ Pháp đã bác bỏ và từ chối đề nghị trên, để rồi Bá Đa Lộc phải tự xoay xở theo con đường riêng ủng hộ Nguyễn Ánh theo tính toán cá nhân của riêng ông.

Tượng Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh

Mặt khác, ở góc độ Nguyễn Ánh mà xét, vì nhu cầu chống Tây Sơn hùng mạnh với ý chí trời long đất lở nhằm hoàn thành nghiệp lớn, những hành động hợp tác và cầu viện bên ngoài đồng nghĩa với việc cam tâm bán nước cầu vinh hay không thì lại là vấn đề nên đánh giá công bằng và khách quan hơn. Đây mới chỉ là sự tiềm ẩn nguy cơ, còn thực tế thì chưa diễn ra.

Trước thế mạnh trúc chẻ ngói tan của Nguyễn Huệ, tính mạng Nguyễn Ánh và bộ hạ của ông như chỉ được tính bằng ngày, bằng giờ. Bất cứ lúc nào cũng có thể chết. Việc tìm cách cứu mình và gia quyến khỏi cái chết rồi từng bước khôi phục sự nghiệp là nhu cầu trên hết, cần phải làm.

Gửi đứa con trai bốn tuổi Nguyễn Phúc Cảnh cho giáo sĩ mang về Pháp nhằm đảm bảo tính mạng đứa trẻ âu cũng là việc làm thường tình của một người cha. Với mưu trí khôn lường như Nguyễn Ánh thì việc xin cứu viện có đồng nghĩa với việc đánh mất độc lập dân tộc chưa thực sự trở thành hai mặt của một vấn đề.

Mối quan hệ của ông với các giáo sĩ phương Tây chặt chẽ, lâu dài, kiên quyết là vậy mà rồi cũng đến hồi kết. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Gia Long, khi có toàn quyền bính trong tay, ông lại trở về cái nguyên mẫu của một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Đại Việt truyền thống, Nho giáo, cố hữu và thủ cựu.

Bộ luật Gia Long mà ông là linh hồn cũng chỉ giám mô phỏng những nội dung của bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ. Các chế độ tư pháp, hành chính, khoa cử, quan lại, ruộng đất... về cơ bản vẫn như cũ. Tiếp đến con cháu ông cũng vẫn như thế. Những dấu hiệu mở mang với phương tây trước đây đã bị chôn vùi vào dĩ vãng.


Hãy đặt một giả thuyết, nếu Nguyễn Ánh không tranh thủ sự giúp đỡ của các giáo sĩ Pháp chống lại Tây Sơn cuối thế kỷ 19, thì liệu hơn 60 năm sau đó, Việt Nam có chắc chắn tránh được loạt đạn đại bác của thực dân Pháp hay không?

Các sự kiện này có liên quan ở một mức độ nhất định nhưng về bản chất không phải là quan hệ nhân quả, không mang tính quy luật; không phải vì có cái này nên mới dẫn đến cái kia. Những gì mà Nguyễn Ánh thực hiện trong quan hệ với các giáo sĩ Pháp trước đó không phải là sự ràng buộc để năm 1858 Pháp tấn công Sơn Trà và tiến hành cuộc xâm lược quy mô lớn của họ.

Càng về cuối đời mình, tính dân tộc chủ nghĩa trong ông càng tăng lên đến mức cự đoan,rồi đến các triều vua Minh Mạng, Thiêu Trị, Tự Đức tiếp đó cũng vậy. Việt Nam bị đóng khung chết cứng trong thiết chế phong kiến tập quyền cổ điển, lạc lõng và cô đơn.

Những gì diễn tiến ở nửa sau thế kỷ 19 như chúng ta đã thấy để rồi nước ta trở thành thuộc địa của Pháp được xuất phát từ một thế trận, một hoàn cảnh lịch sử khác.

Các nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương như Lào, Campuchia không hề liên quan gì đến các hành động của Nguyễn Ánh 100 năm trước đó tại Việt Nam, rồi cũng trở thành mục tiêu xâm lược của Pháp, không tránh khỏi số phận thuộc địa.

Tàu chiến Pháp tiến vào biển Đà Nẵng

3. Cái khác biệt và cái đồng nhất giữa Nguyễn Huệ - Quang Trung và Nguyễn Ánh - Gia Long

Giữa hai con người không đội trời chung này có nhiều nét tương phản và nhiều nét tương đồng đến mức kỳ lạ mà tạo hoá đã an bài trong cùng một thời kỳ lịch sử, trở thành cặp bài trùng không thể tách ra khi phân tích về mỗi con người trong họ.

Cái khác biệt cơ bản và trọng tội của Nguyễn Ánh:

  • Nguyễn Huệ đại diện cho giai cấp cần lao. Nguyễn Ánh thuộc dòng dõi quý tộc.
  • Nguyễn Huệ dấy binh khởi nghĩa vì quyền lợi và hạnh phúc của lê dân đang rên xiết dưới ách thống trị hà khắc của chế độ phong kiến Đàng Trong mà Nguyên Ánh cũng là một đại diện. Nguyễn Ánh lại đấu tranh vì quyền lợi của dòng tộc và cá nhân.
  • Nguyễn Huệ muốn đập tan các thế lực cát cứ để đưa giang sơn về một mối. Nguyễn Ánh lo bảo vệ cho chế độ chúa Nguyễn Đàng Trong của mình.
  • Nguyễn Huệ đặt độc lập đân tộc lên trên hết. Thù trong được đặt sau giặc ngoài. Vì vậy khi quân Xiêm La xâm lược, việc trước tiên của ông là đánh tan quân xâm lược Xiêm. Khi quân Thanh tràn sang, ông đã gạt bỏ mọi lực cản, lên ngôi Hoàng đế, thống nhất nhân tâm và lực lượng, thần tốc hành quân ra bắc đại phá quân Thanh, bảo vệ độc lập cho tổ quốc.
  • Trong khi đó, Nguyễn Ánh chỉ biết lo cho quyền lợi cá nhân,lại cầu cứu quân Xiêm sang giúp đánh Tây Sơn. Đấy là chưa tính đến hành động giúp lương thảo cho quân Thanh không thành sau khi được tin quân Thanh đã tiến vào thăng Long cuối năm 1788.

Cái tương đồng ở hai con người này:

  • Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh có nét tương đồng ở chỗ: hai người đều nuôi chí lớn, quyết thực hiện đến cùng sự nghiệp của mình, không ai có thể lay chuyển và chi phối.
  • Hai con người đều có những thiên bẩm trí dũng hơn người, mưu cao, kế sâu, đầy thao lược, luôn tạo những bước đi táo bạo, mang tính đột phá mà ít ai dám nghĩ tới.

Chiến công hiển hách mà Nguyễn Huệ Quang Trung tạo dựng được là đánh tan các thế lực ngoại bang xâm lược, giữ vững độc lập, mang lại niềm tự hào cho dân tộc; tiêu diệt và xoá bỏ được các thế lực cát cứ, phân quyền duy trì hàng thế kỷ.

4. Những nghiệm số cơ bản của Nguyễn Ánh - Gia Long

Từ cái chết của Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh là kẻ thù biết chiếm đoạt toàn bộ thành quả do Nguyễn Huệ làm nên và biết đưa nó đến đích, mặc dù chỉ là giải quyết những bước cuối cùng - thống nhất sơn hà. Tuy vậy đó cũng là một công lao to lớn của Nguyễn Ánh mà lịch sử không thể phủ nhận.


Đáng tiếc, sau khi nắm toàn bộ quyền binh trong tay ông lại thực hiện những cuộc báo thù man rợ, ít có trong lịch sử đối với một Hoàng Đế; lo thu vén quyền binh và bổng lộc cho cá nhân và dòng tộc. Ông không biết phát huy những quy luật phát triển mới của thời đại, lại đưa đất nước trở lại con đường mòn cố hữu lạc hậu của lịch sử.

Cũng chính vì vậy, cả dân tộc không thoát khỏi mũi súng xâm lược của đế quốc Pháp sau khi ông tạ thế nửa thế kỷ. Nguyễn Ánh - Gia Long và Triều Nguyễn của ông tồn tại 143 năm (1802 -1945) với đầy thách thức vinh nhục, gắn liền với bước trường tồn của toàn dân tộc, là một thực thế vương triều hợp pháp.

Cũng từ vương triều này đã sản sinh ra những Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đầy lòng yêu nước, là niềm tự hào của dân tộc.

Trên bờ Hương giang thơ mộng, gắn liền với sự tích về cuộc giao duyên huyền thoại của Huyền Trân công chúa nghìn năm trước đã mọc lên một quần thể kiến trúc nguy nga, độc nhất vô nhị, chứa đựng biết bao trầm tích lịch sử và tâm linh, là di sản văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc. Cung đình Huế không tách rời triều đại Nguyễn và Hoàng đế Gia Long.

Những lỗi lầm của Nguyễn Ánh là rất lớn và đáng lên án, nhưng vẫn có thể coi ông là một vĩ nhân lịch sử, một thực thể tất yếu của lịch sử Đại Việt.

Trong danh mục những minh vương dựng nghiệp lớn, có cả tên ông.