Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao nhà Tây Sơn sụp đổ?

© Giang Lê - The X file of History

Trong lịch sử Việt Nam tồn tại không ít các cuộc khởi nghĩa nông dân; tuy nhiên đỉnh cao nhất phải kể đến là phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Một cuộc khởi nghĩa vĩ đại, lập nên một sự nghiệp oanh oanh liệt liệt nhưng lại quá ngắn ngủi. Bởi trong đó đã tồn tại rất nhiều hạn chế chết người.

Bài viết dưới đây của bạn Giang Lê đến từ Cần Thơ, cảm ơn bạn, và chúng tôi luôn hoan nghênh những bài viết lịch sử xuất sắc gửi đến page The X file of History.

Ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ



Có một điều mà lịch sử đã bị chiến công vĩ đại của Quang Trung ở Thăng Long che lấp đi ít nhiều. Dù đã càn quét từ nam chí bắc, Quang Trung vẫn chưa thật sự thống nhất được toàn vẹn theo kiểu Trung Ương mà theo kiểu cát cứ. Chính ở đó, xuất hiện hạn chế thứ nhất.

Để bắt đầu nói về hạn chế này, phải nói về 1 bài học mà Tần Thủy Hoàng bên Trung Quốc đã làm, cũng thống nhất sau khi thu về được 6 nước tách biệt. Ngay khi đánh bại lục quốc; Thủy Hoàng Đế đã ra lệnh hủy bỏ danh xưng của các quốc gia cũ; chia cả nước ra làm 36 quận; đặt hệ thống quan lại hành chính quản lý các quận cùng với hệ thống giám sát; song song với đó ông định luật pháp như thời Thương Ưởng để nhanh chóng đưa đất nước đi vào quỹ đạo ổn định. Thống nhất luật pháp, thống nhất lãnh thổ; từ đây Trung Hoa hoàn toàn đặt dưới bàn tay trị vì của ông vì khi đó chỉ còn một quốc gia duy nhất, đó là Đại Tần. Sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể làm được là do ở nước Tần, ông là minh chủ cao nhất và duy nhất, không ai đứng trên hay ngang ông, Đại Tần là quốc gia thống nhất.

Nhưng ở thời Tây Sơn, lãnh thổ đã bị chia ba, không lập quốc hiệu riêng; tương tự như cách một ông Hội đồng địa chủ chia gia tài cho các con của mình; mỗi người một căn nhà, vài trăm công ruộng, tự sinh tự diệt; người nào tài giỏi thì có thể tạo lập sản nghiệp như ông cha; lười biếng thì sẽ tiêu hết sản nghiệp khiến cho tài sản ông bà để lại tiêu tán. Quốc gia thì không thể như vậy; quốc gia phải thống nhất, sức mạnh cộng hưởng từ tất cả các vùng đất trong cùng một đất nước tạo ra sức bật lớn cho sự phát triển. Và khi mà triều Tây Sơn thực hiện việc chia lãnh thổ như cách một ngài Hội đồng chia đất; thì kết quả là người con tài giỏi nhất Nguyễn Huệ mở mang được ra Bắc Hà trong khi người con yếu đuối nhất là Nguyễn Lữ lại để mất Nam Hà vào tay kẻ tử thù, cơ nghiệp từ đó mà mang họa diệt vong. Thế mới thấy được việc “trị quốc, bình thiên hạ” xử lý theo thói “tề gia” là cực kì nguy hại.

Tính chính thống của Tây Sơn: Tính chính thống là đến từ lòng dân; lòng dân công nhận thì mới được xem là chính thống. Triều Tây Sơn gặt hái một vài tích cực về phương diện chính thống khi nhận được sự thừa nhận từ nhà Thanh, quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực. Tuy nhiên, chỉ như thế thôi thì không đủ. Thời điểm Tây Sơn bắt đầu hoạt động, bối cảnh chính trị xã hội ở Đàng Trong lúc này khá nhiều rối ren. Các chúa Nguyễn không còn khả năng kiểm soát chính quyền, đại thần Trương Phúc Loan nổi lên như một nhân vật chính trị trung tâm của vũ đài chính trị Đàng Trong. Khác với Hồ Quý Lý hay Mặc Đăng Dung trước đây; Trương Phúc Loan tuy tiếm quyền nhưng không đủ khả năng khống chế đại cục, tranh giành vương vị. Ông ta chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực mua quan bán tước, tích trữ của cải. Và đó là thời cơ thích hợp để phong trào Tây Sơn nổ ra; khởi nghĩa nêu cao khẩu hiệu ủng hộ Hoàng Tôn Dương, đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan. Cần lưu ý ở đây là ngay từ đầu nguyên nhân khởi nghĩa là để ủng hộ chúa Nguyễn; Tây Sơn đã ngầm công nhận chúa Nguyễn là lãnh đạo hợp pháp của Đàng Trong, nhờ đó mà dân chúng đã hưởng ứng và đi theo nghĩa quân. Nhiều cánh quân khởi nghĩa ban đầu theo Tây Sơn do nghĩ rằng Tây Sơn phò chúa Nguyễn; nhưng sau này khi thấy Tây Sơn thẳng tay giết hại các chúa thì đã ly khai và chống lại, tiêu biểu như cánh quân Chu Văn Tiếp. Tây Sơn dùng ngọn cờ ủng hộ chúa Nguyễn để tranh thủ lòng dân, và khi đã có được thực quyền thì họ lại ra tay sát hại các chúa không thương tiếc; mồ mả chín chúa nhà Nguyễn đều bị quật lên, tro cốt ném xuống sông; tổ chức truy sát công khai con cháu nhà Nguyễn.

Đồng ý đã thay triều đổi đại thì không nên cải lương, hay mềm lòng; nhưng có chăng họ đã quá vội vàng. Giết hại các chúa Nguyễn là Tây Sơn đã bắt đầu tháo bỏ chiếc mặt nạ chính thống mà mình đã kì công đeo bấy lâu, điều này đã chạm sâu đến lòng trung thành của những người còn thờ chúa.

Lùi về lịch sử hơn ba thế kỷ trước, khởi nghĩa nông dân Lam Sơn của Lê Lợi trong những ngày tháng chiến đấu ác liệt cuối cùng, để có thể thỏa hiệp với Vương Thông, lập con cháu nhà Trần nối ngôi. Ông đã cho lập Trần Cảo – hậu duệ nhà Trần lên làm vua, bản thân mình giữ chức Vệ quốc công. Sau đó, Trần Cảo thân cô sức yếu, sợ bị giết phải bỏ trốn. Lê Lợi cho người đuổi theo, ép uống độc chết. Nhà Trần không còn con cháu, nghiễm nhiên vương vị thuộc về Lê Lợi. Cùng một bản chất, thủ đoạn ra tay đều tàn độc; nhưng Lê Lợi đã thực hiện có phần “tinh tế” hơn, ít bị điều tiếng. Có thể dẫn ra giả thiết rằng Quang Trung đã dự đoán được trước các mối nguy hại này và Ngài tự tin với khả năng của mình có thể dọn dẹp tất cả trong 10 năm hay 20 năm. Tiếc thay, người tính không bằng trời tính; Ngài ra đi quá sớm khiến những vấn đề Ngài đặt ra là một bài toán quá khó đối với ấu chúa Quang Toản.

Một vấn đề quan trọng khác: NGƯỜI HOA. Nói về Nam Hà; miền Nam trước đây vốn bao gồm đất đai của Chân Lạp và các vùng đất chưa được khai phá. Các bồ thần nhà Minh vì tránh nạn quân Thanh đã đến nương nhờ chúa Nguyễn, chúa giao cho họ khai dân lập ấp các vùng đất mới. Từ đây, đất đai Đàng Trong ngày càng được mở rộng hơn về phía Nam và hình thành nên cộng đồng người Hoa đông đảo, giàu có. Người Hoa không thể một mình chống giữ các vùng đất mới nên cần phải nương nhờ các chúa, trở thành thần tử của chúa Nguyễn tạo nên mối liên kết, đó có thể xem là một mối ân tình. Từ đó, người Hoa tại Nam Hà luôn trung thành với chính quyền chúa Nguyễn. Nhưng mọi thứ trở nên xáo trộn khi Tây Sơn tiến đánh Nam Hà. Họ cho quân lính phá tan các khu vực buôn bán giàu có của người Hoa như vùng Cù Lao Phố. Đỉnh điểm là việc Thái Đức cho thảm sát 1 vạn người Hoa tại Nam Hà để báo thù cho Phạm Ngạn, tướng thân cận của Thái Đức. Ra chiến trường, đồng đội hơn anh em; một đồng đội chết cả đội quân có thể xông lên báo thù. Tuy nhiên, đó chỉ là cảm tính của người lính. Đằng này, Nguyễn Nhạc đường đường là tổng tư lệnh chỉ huy ba quân mà lại cư xử theo kiểu tình cảm vụn vặt. Huống chi ra chiến trường, anh không chết thì tôi chết, cái chết của Phạm Ngạn là chiến tử nơi sa trường, sao có thể xem là bất công để rồi báo thù.

Hãy nhìn cách Nguyễn Ánh đối đãi với dân chúng Quy Nhơn khi Ngài chiếm được; Ngài thừa biết Quy Nhơn là đất tổ của Tây Sơn nhưng vẫn không tiến hành báo thù; ngược lại còn giảm bớt thuế má, yên ủi lòng dân, nhờ đó dẹp tan sự chống cự; để sau này Võ Tánh an tâm thủ thành Quy Nhơn cả năm trời trước sức tấn công vũ bão của Tây Sơn. Hành động thảm sát người Hoa của Thái Đức đã vĩnh viễn đẩy người Hoa về với Nguyễn Ánh. Ân tình của chúa Nguyễn và ân oán với Tây Sơn đã khiến người Hoa tại Nam Hà hết lòng ủng hộ Nguyễn Ánh cả về nhân lực lẫn vật lực; giúp cho Ngài có thể giành được thế đứng chân tại Nam Hà; tạo nền tảng để đánh bại Tây Sơn về sau.

Hạn chế thứ hai đến từ sự phân tán quyền lực và chia rẽ nội bộ. Đây chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Tây Sơn. Như đã nói ở trên, Tây Sơn thực chất giống một tập đoàn quân sự nhiều hơn là một vương triều chính thống. Mà đã là một tập đoàn thì sẽ bị lãnh đạo bởi nhiều cá nhân chứ không phải duy nhất. Nếu các cá nhân tài giỏi và đoàn kết thì tập đoàn sẽ mãi hùng mạnh, còn nếu chia rẽ hay tranh thủ lợi ích nhóm thì tất yếu sẽ suy kiệt. Có thể nhìn thấy trong thế giới thực tại với bằng chứng là tập đoàn Lotte của Hàn Quốc. Việc đấu đá quyền lực của cha con, anh em trong gia đình đã đẩy tập đoàn vào chỗ khốn cùng; các thành viên liên tục tố cáo lẫn nhau vô tình bóc mẽ nhiều sai phạm của Lotte trong mắt công chúng cùng với cơ quan tư pháp. Tây Sơn lúc mới thành lập là một nội bộ đoàn kết, lí tưởng (cướp của người giàu chia cho người nghèo) tuy nhiên sau khi giành được chính quyền dần bộc lộ sự tha hóa; lạm dụng vũ lực để giành quyền cai trị nhiều hơn là tranh thủ lòng dân; tiêu biểu là việc dùng vũ lực với người Hoa ở Nam Hà, điều này đã bị Nguyễn Ánh sau đó khai thác triệt để. Thái Đức ăn chơi hưởng lạc; chỉ bo bo giữ những gì mình có (trên cương vị là nhà sáng lập mà hành động như vậy thì sẽ tạo ra phản ứng không tốt đối với cấp dưới); nội bộ đánh giết lẫn nhau khiến dân chúng lầm than. Khởi đầu là tranh chấp giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Tây Sơn có hai trung tâm quyền lực chính là Quy Nhơn (Thái Đức) và Phú Xuân (Quang Trung, sau này là Cảnh Thịnh), đáng buồn là hai trung tâm này lại không vui vẻ gì; luôn phải đề phòng lẫn nhau. Đông Định Vương Nguyễn Lữ giữ Gia Định nhưng khả năng quân sự hạn chế, nhút nhát, chỉ cần kế ly gián nhỏ là đã bỏ chạy; Phạm Văn Tham phải một mình chống giữ và tất yếu mất về tay Nguyễn Ánh. Có thể thấy việc phân tán quyền lực đã làm cho sức mạnh Tây Sơn tại Gia Định yếu đi rất nhiều. Nếu chính quyền ở Quy Nhơn tập trung toàn lực hỗ trợ cho miền Nam thì chưa chắc Nguyễn Ánh đã dễ dàng tạo được thế đứng chân trên thành Gia Định. Nhưng không, Quy Nhơn đang còn bận đối đầu với “đại địch” Phú Xuân, hơi sức đâu mà giữ Nam Hà.

Sự chia rẽ nội bộ: ở đây có đến hai sự chia rẽ; chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân (chia rẽ trong Hội đồng quản trị) và chia rẽ giữa nội bộ tại Phú Xuân (chia rẽ trong Ban giám đốc). Chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân thể hiện ở việc Thái Đức lo sợ quân Phú Xuân tấn công nên chỉ lo phòng bị phía Bắc; từ chối hoặc hạn chế cứu viện cho chiến trường phía Nam. Thậm chí khi Quang Trung mất năm 1792, Thái Đức cũng không thể đi viếng do quân của Cảnh Thịnh ngăn giữ. Đỉnh điểm năm 1793, Thái Đức bị Nguyễn Ánh vây đánh Quy Nhơn đã cầu viện Phú Xuân giúp đỡ. Các tướng của Phú Xuân vận dụng “rất tốt” kế sách “Mượn đường diệt Quắc”; đánh lui quân Nguyễn xong sẵn chiếm luôn thành; việc làm này khiến cho Thái Đức uất hận mà chết. Sách lược này đã được các tướng Tây Sơn vận dụng không đúng lúc. Ngoại địch lúc này còn đang quá mạnh, chưa thể tiêu diệt mà lại gây ra tranh chấp lớn, mất đoàn kết nội bộ. Thực tế sau đó, các tướng lĩnh trung thành với Thái Đức đã bị nghi kị và giết hại; một số đã bỏ sang phe Nguyễn Ánh; điển hình là tướng Lê Trung - một trong những người tham gia tích cực chiến trường Nam Hà - trước đây theo Nguyễn Nhạc đã bị giết chết, con trai (có tài liệu nói con rể) là Lê Chất phẫn nộ mà bỏ sang phe Nguyễn Ánh, thông báo nội tình thủy quân Tây Sơn cho Nguyễn Ánh biết. Tướng Phan Văn Lân đang canh giữ biên giới phía Bắc sau khi nghe tin đã bất mãn mà bỏ đi. Việc phân biệt giữa những người theo Thái Đức và những người theo Cảnh Thịnh đã làm nội bộ Tây Sơn thêm xào xáo, ám hại lẫn nhau ngày càng nhiều và dần suy yếu.

***

Bây giờ là câu chuyện về những ngày đánh nhau của Tây Sơn sau khi Quang Trung mất.

Ngoại thích Bùi Đắc Tuyên nắm quyền hành. Để nói về tầm của Bùi Đắc Tuyên thì có thể kể đến việc: trong yến tiệc, vì muốn mua vui cho Thái tử Quang Toản mà Bùi Đắc Tuyên đã yêu cầu hai võ tướng giỏi côn pháp là Võ Đình Tú và Đặng Văn Long thi tài đấu côn. Hai tướng đành miễn cưỡng ra thi đấu. Sau vua Quang Trung biết được sự việc đã lên tiếng quở trách và nghiêm cấm không được tái diễn. Có thể thấy nhân vật này là người rất có “tài” làm chia rẽ nội bộ. Năm 1794, danh tướng Lê Văn Hưng sau khi mang quân đánh Phú Yên, đã hợp sức với Nguyễn Quang Huy (tướng của Thái Đức) chiếm lại được từ tay quân Nguyễn. Sau đó Hưng giao cho Nguyễn Quang Huy giữ rồi rút về. Bùi Đắc Tuyên nhân đó xàm tấu với Cảnh Thịnh rằng Hưng có ý phản nghịch (cấu kết với phe Quy Nhơn) nên bắt giết; Tây Sơn vì thế mất một tướng tài.

Chưa dừng lại, Võ Văn Dũng đang ở Thăng Long cũng bị Tuyên triệu tập về Phú Xuân hòng kiềm chế. Trên đường về Võ Văn Dũng đã gặp Trần Văn Kỷ (đang bị Tuyên lưu đày) nên biết sớm thông tin và ra tay trước. Võ Văn Dũng huy động các tướng lĩnh bắt giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tiện tay triệu hồi Ngô Văn Sở ở Thăng Long về xử chết vì cho rằng Sở thuộc phe của Tuyên. Cuộc thanh trừng nội bộ này khiến cho Trần Quang Diệu dù đang tiến quân rất thuận lợi ở Diên Khánh cũng phải rút về để giải quyết, về đến Phú Xuân suýt nữa là đánh nhau với Võ Văn Dũng. Liên tiếp về sau; Tây Sơn liên tục rơi vào tranh đấu nội bộ, lạm dụng quân đội để giải quyết mâu thuẫn. Các tướng tự lập phe phái, xàm tấu lẫn nhau, không coi trọng ấu chua. Về phần mình, Cảnh Thịnh sợ uy quyền lớn mạnh của các tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú,..nên đã tìm cách chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các tướng. Có thể nói Tây Sơn từ lục đục chìm sâu hơn vào khủng hoảng nội bộ; ấu chúa chẳng những không thể giải quyết mà còn tiếp tay thêm vào quá trình mâu thuẫn. Một Tây Sơn lục đục nội bộ, mất lòng dân đối đầu với một Gia Long đang hừng hực khí thế, quân đội hùng mạnh. Cán cân cuộc chiến đã bắt đầu có sự dịch chuyển.

Về Quang Toản: Vua Quang Trung có thể không nhìn sai về Quang Toản; nhưng Ngài không thể thắng được thời gian. Nếu Quang Trung có thể sống lâu hơn 10 hay 20 năm thì biết đâu rằng Ngài có thể đào tạo Quang Toản thành một minh chúa. Trước khi mất, Ngài còn đánh giá: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!”.

Từ những gì vua nói lúc lâm chung có thể mang đến cho chúng ta nhiều vấn đề. Thứ nhất, Ngài lo lắng về việc Quang Toản còn quá nhỏ để có thể điều hành công việc; điều này đã quá hiện hữu. Thứ hai, Quang Trung nhìn nhận quân Gia Định của Nguyễn Ánh là thế lực nguy hiểm nhất vào thời điểm hiện tại. Ngài đã dự định huy động một đội quân hùng hậu vào Nam, quyết tâm tiêu diệt kẻ đại thù. Một kế hoạch vô cùng chu đáo; chặn đứng mọi con đường sang Xiêm hay ra biển của Nguyễn Ánh; Quang Trung thực sự đánh giá rất cao Gia Long. Điều đó càng thể hiện rõ khi ban đầu Ngài dự định một kế hoạch khổng lồ chủ động tấn công vào sào huyệt kẻ thù; nhưng khi đổ bệnh Ngài chỉ yêu cầu Trần Quang Diệu phải tập trung toàn lực giúp Quang Toản dời đô về Nghệ An, chuyển hoàn toàn sang thế thủ. Ngài đánh giá được rằng ngoài bản thân mình ra thì Tây Sơn không còn ai đủ khả năng dẫn quân vào Nam đương đầu với Nguyễn Ánh. Trong khi Phú Xuân lại không phải là nơi dễ phòng thủ so với sức mạnh thủy quân nhà Nguyễn. Tiếc thay, không một ai trong Tây Sơn làm theo lời yêu cầu cuối cùng của nhà vua.

Sự chênh lệch tầm nhìn cũng như năng lực giữa Quang Trung và cấp dưới quá rõ rệt tạo ra một lỗ hổng lớn khi Ngài mất. Thiếu Ngài, tác chiến không có định hướng, rối bời. Trước đây, thủy quân Tây Sơn dù yếu hơn; nhưng nhờ có Quang Trung chỉ huy, họ vẫn anh dũng đánh bại thủy quân của Gia Long. Giờ đây, mọi chuyện đã khác; quân chủ lực Tây Sơn do Trần Quang Diệu nắm giữ đánh rất khá nhưng không giành được thắng lợi quan trọng, chỉ làm tròn vai chứ không gây đột biến. Võ Văn Dũng giỏi chính trị, ngoại giao nhưng cầm quân không tốt, liên tục bại trận, nướng hết thủy quân. Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết co cụm phòng thủ, không đóng góp được gì nhiều. Lê Văn Hưng, Lê Trung, Ngô Văn Sở đều đã bị giết. Giới văn nhân hoàn toàn bị đặt ra ngoài vòng chiến, Ngô Thì Nhậm tham gia chiến trường hạn chế. Quân Tây Sơn tác chiến theo kiểu dập lửa; cháy đâu dập đó; không ngăn được đám cháy lan tỏa.

Điểm sáng duy nhất trên chiến trường có lẽ là Nguyễn Quang Huy, thân yếu thế cô nhưng liên tục khuấy đảo bên trong lòng địch. Tuy nhiên; tất cả đều là không đủ. Tây Sơn sụp đổ như một vấn đề tất yếu.

Lời kết:

Cái chết của Vua Quang Trung luôn là một điều tiếc nuối lớn của lịch sử. Tuy nhiên, sự sụp đổ của Tây Sơn thì chưa hẳn. Họ đã quên đi cách thu phục lòng dân mà mải mê đấu đá nhau. Nếu lòng dân nhìn Nguyễn Ánh với sự xấu xa, thì cớ sao Nam Hà chưa bao giờ quên ngài? Việc bỏ quên lòng dân khi lên đến đỉnh cao danh vọng là hạn chế cuối cùng nhưng đấy là hạn chế lớn lao mang tầm vĩ mô nhất.

Nguyễn Trãi đã từng nói: “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước, nước có thể chở thuyền nhưng nước cũng có thể lật thuyền được.”

Trên một bình diện nào đó, với những hạn chế của Tây Sơn ta lại thấy được cái chính trị toàn diện của Gia Long Nguyễn Ánh.

Rất nhiều người tiếc, nhưng cũng có thể chưa hẳn đã tiếc. Chỉ biết rằng lịch sử đã chọn Gia Long thay vì Quang Trung.

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Lời dẫn: Bài viết này là của Nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An viết trên trang Khám Phá Huế (khamphahue.com.vn) nhưng giờ không tìm lại được nữa. Vậy nên có một số nơi đăng lại, như trang Nghiên cứu Quốc Tế (nhưng bị chặn, không truy cập bình thường được) hoặc VTC News (nhưng rất nhiều còm sặc mùi nhồi sọ, đọc rất khó chịu).

Vậy nên re-post ở đây để đọc lại khi muốn, ngoài ra có thể tham khảo thêm thread này để hiểu rõ hơn về Tây Sơn (và cũng để không tin SGK Lịch sử của VN 😢😢😢).

Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh
(tranh do Viet Toon vẽ lại từ di ảnh)



Đôi nét lịch sử

Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.

Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó – vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).

Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.

Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài” (Thực lục I, tr.531).

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân” (Thực lục I, tr.532,533).

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.

Phẩm bình của lịch sử

Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?

Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết: “Vậy mà Nã Phá Luân [Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm; còn Quang Trung: mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”.

Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc” (tr.240).

Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao:

Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.

Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.

Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã. Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê.

Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.

Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.

Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc. Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?

Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.

Trăm năm bia đá thời mòn

Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết. Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:

“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65)

Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra.

Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại).

Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hồ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong.

Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.

Câu hỏi đặt ra

Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.

Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4) .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời” (Thực lục I, tr.508).

Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).

Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…).

Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh:

“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta’. Bèn sai quan quân đưa về” (Thực lục I,tr.445).

Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544).

Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt, chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?

Sự thật là đây

Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:

“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445).

Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.

Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” (5) (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ: thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẽ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.

Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.

Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):

“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.

Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.

Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.

Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho” (Thực lục I, tr.466).

Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:

– Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
  1. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613); 
  2. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); 
  3. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); 
  4. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) 
  5. Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691); 
  6. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725); 
  7. Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738); 
  8. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765); 

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

– Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.

Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)” (tr.193).

Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.

Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).

Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.

Một vài cảm nghĩ

Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.

1/ Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen.

Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.

2/ Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời.

Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng” là gì?

“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”. Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.

Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành.

Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân. Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.

3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời”.

Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên.

Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sử dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.

Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).

Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao: Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau.

Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!

Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?

Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.

Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).

Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

————

Chú thích:

(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính Dần) vua mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.

(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up

(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận:

“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử.
Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” - Báo Thể thao - Văn hoá

(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thoát ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

(5) “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời” (Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532).

Vì sao Quang Trung đánh trận Ngọc Hồi chậm một ngày?

© GS. Lê Văn Lan (bài đăng trên báo QĐND)

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Trong Chiến dịch giải phóng Thăng Long (còn gọi là “Chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa”) đầu Xuân năm Kỷ Dậu - 1789, đại đồn Ngọc Hồi của quân xâm lược Mãn Thanh là một mục tiêu tấn công chủ yếu của Quang Trung Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn.

Trong kế hoạch của chủ tướng đạo quân xâm lược Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị phòng thủ tòa Kinh thành Thăng Long vừa chiếm được từ ngày 20 tháng 11 năm Mậu Thân, để rồi đến ngày mồng 6 Tết Kỷ Dậu sẽ bắt đầu tiến quân vào Quảng Nam đánh tiêu diệt hoặc bắt Tây Sơn Nguyễn Huệ phải hàng phục, thì đại đồn Ngọc Hồi cũng đồng thời vừa là một căn cứ tiền tiêu, vừa là một bàn đạp xuất phát quan trọng nhất.

Ngọc Hồi ở cách Thăng Long 14km về phía Nam, nằm ngay trên trục đường Cái quan (Quốc lộ 1 ngày nay). Chủ tướng Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị tin chắc, và Quang Trung Nguyễn Huệ cũng biết rằng, một khi có giao tranh, thì Ngọc Hồi sẽ là chỗ đánh trận kịch liệt nhất.

Vì thế, ở Ngọc Hồi, trên một nền đất rộng gần 20 mẫu, cao hơn mặt đường khoảng 0,5m-đến nay vẫn còn giữ được tên gọi là “Cánh Đồng Đồn” và “Cánh đồng Bứng”-dàn ra hai bên đường Cái quan, Tôn Sĩ Nghị đã cho đóng tới 3 vạn quân, cử chính phó tướng của mình là Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy, cùng với cả hai chức Tổng binh Quảng Tây là Thượng Duy Thăng, Tổng binh Quảng Đông là Trương Triều Long đến trấn giữ. Lại còn cho đóng đồn Văn Điển ở ngay phía sau để tiếp viện. Và một loạt đồn nữa, ở phía trước để che chắn (phòng thủ) theo chiều dọc: Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Hà Hồi…

Đấy là những hành động nhiều nhất thì cũng chỉ có ý nghĩa chiến thuật để gỡ lại cái sai lầm chiến thuật chết người của phía Mãn Thanh: Đang đà dồn dập tiến quân, bỗng dưng khựng lại, theo lời huênh hoang của viên chủ tướng họ Tôn: “Năm đã gần hết, việc gì phải vội vàng? Không cần đánh gấp! Giặc đang còn gầy, ta nên nuôi cho nó béo, để nó tự dẫn xác đến mà làm thịt!”.

Về phía Tây Sơn, thì như lời Quang Trung Nguyễn Huệ đã nói khi dẫn đại quân từ Phú Xuân, qua Nghệ An, Thanh Hóa, ra tới vùng đèo Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-1-1789): “Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi. Chỉ trong vòng mươi ngày là đuổi được giặc Thanh!”.

Theo “phương lược tiến đánh đã tính sẵn” ấy, quân Tây Sơn sẽ (đã) hành tiến tấn công theo đội hình “Bàn tay xòe”:


  • Trung quân (ngón tay giữa) gồm bộ binh và tượng binh (100 thớt voi chiến) do chính Quang Trung chỉ huy, hành quân chiến đấu dọc con đường Cái quan, từ Tam Điệp thẳng tới Thăng Long, đánh vỗ mặt đạo Trung quân của địch.
  • Cánh thủy quân thứ nhất (ngón đeo nhẫn) đi đường ven biển, do Đô đốc Tuyết chỉ huy, vào cửa sông Cái, đánh đạo Tả dực của quân Thanh đóng ở Hải Dương, không cho nó lên ứng cứu Trung quân.
  • Cánh thủy quân thứ hai (ngón tay út), do Đô đốc Lộc chỉ huy, cũng theo đường biển, nhưng vòng xa lên mạn Lục Đầu, chẹn đường Trung quân giặc thua chạy về nước, ở Phượng Nhãn (Bắc Giang).
Đó là hai cánh quân Hữu dực của Tây Sơn. Còn đạo Tả dực thì cũng gồm hai cánh:
  • Cánh kỵ binh và tượng binh (ngón tay trỏ) do Đô đốc Bảo chỉ huy, đi song song với đạo Trung quân nhưng chếch về phía Tây, theo đường đồi núi, đổ ra Đại Áng, phục binh ở phía tây Ngọc Hồi.
  • Cánh Khinh binh tinh nhuệ (ngón tay cái) do Đô đốc Long chỉ huy, vòng xa hơn về mạn tây, theo con đường “Thượng đạo” (đường Hồ Chí Minh-Trường Sơn ngày nay) bất ngờ đến Khương Thượng, sát Đống Đa ở mạn tây nam Thăng Long, đánh vỗ quân Hữu dực của giặc ở đây, rồi nhanh chóng thọc dao vào sau lưng Trung quân (đại bản doanh) Tôn Sĩ Nghị.

Đúng đêm 30 Tết, triển khai thế trận, đạo Trung quân Tây Sơn xuất phát từ Tam Điệp. Đánh mạnh và quá nhanh, chỉ qua hai ngày Mồng Một và Mồng Hai Tết, tiến dọc chiều sâu chính diện 80km, nhổ phăng các đồn tiền tiêu Gián Khẩu, Nguyệt Quyết… của địch. Đến đêm Mồng Ba Tết, đạo quân này đã tiến tới trước đồn Hà Hồi – cách Ngọc Hồi 6km, cách Thăng Long 20km.

Chỉ chốc lát, và chỉ một cung đường ngắn ngủi nữa, đạo Trung quân này đã hoàn toàn có thể tấn công Ngọc Hồi, chậm nhất là vào sáng sớm Mồng Bốn Tết.

Nhưng thực tế, đã không có trận đánh nào ở Ngọc Hồi trong cả ngày Mồng Bốn Tết ấy.

Vì sao như vậy?

Đã có nhiều cách giải thích từ trong lịch sử. Chẳng hạn như (và cả 3 vạn quân tướng giặc ở Ngọc Hồi cũng đã nghĩ thế) rằng vậy là để dứ đòn, khiến quân Thanh phải căng thẳng, mệt mỏi đối phó, trước khi trận đánh thực sự nổ ra.

Nhưng thật ra, đây chỉ là động thái chờ nhau giữa các cánh quân Tây Sơn, để phối hợp nhịp nhàng, hữu hiệu, trong một thế trận, với “phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi”-như lời tuyên bố của Quang Trung từ trước đấy.

Bởi vì đạo Trung quân do chính chủ soái Tây Sơn chỉ huy, vừa đi đường thẳng và phẳng, vừa đánh quá nhanh, cho nên phải chờ đạo Hữu dực đi đường thủy và vòng xa về phía đông. Nhất là phải chờ đạo Tả dực cũng vừa phải vòng xa về mạn tây, lại vừa phải đi đường núi. Đặc biệt đối với việc đánh Ngọc Hồi, thì Quang Trung còn phải chờ cánh quân Đô đốc Bảo, giữ vai trò rất quan trọng là trực tiếp đến đích phối hợp tác chiến.

Một ngày và một đêm-từ sáng sớm Mồng Bốn Tết đến sáng sớm Mồng Năm Tết-là thời gian cần và đủ để điều hành và thực hiện tất cả những công việc và hành động quân sự trên chiến trường ấy.

Cho nên, rạng sáng Mồng Năm Tết, khi Quang Trung vừa tháo chiếc khăn vàng hoàng đế chít đầu, thắt vào quanh cổ để tỏ ý quyết không sống nữa nếu không thắng trận này và vừa trèo lên bành voi phất cờ lệnh cho toàn đạo Trung quân xung trận, bất chấp địa lôi, rào cản, súng đạn, hỏa mù… chống trả của giặc, sau đấy đã tràn được vào đại đồn Ngọc Hồi mà đánh giết, khiến chiến trường “máu ngập đến mắt cá chân”. Như sự ghi chép của sử cũ thì những kẻ sống sót khi bỏ đồn chạy thục mạng về phía Thăng Long, nhưng vấp phải đội quân nghi binh Tây Sơn phục sẵn, nổi dậy giương cờ gióng trống xua đuổi, chúng đành phải dạt cả về phía tây, để ở đấy mà chịu trận đánh tiêu diệt của Đô đốc Bảo vừa kịp đến phối hợp: Dùng voi, ngựa giày xéo, giẫm đạp toàn bộ quân giặc dưới khu bùn lầy Đầm Mực!

Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa

Cũng vào lúc rạng sáng Mồng Năm Tết ấy, cánh khinh binh vu hồi của Đô đốc Long đã kịp tới đích để cùng dân chúng “Ba làng gừng” (Khương Thượng, Khương Trung, Khương Đình) làm “trận Rồng lửa”, phá tan đại đồn Đống Đa của quân Thanh, rồi nhanh chóng xông qua cửa Ô Chợ Dừa, đánh thẳng vào sau lưng đại bản doanh địch. Chủ tướng Tôn Sĩ Nghị đang mải miết theo dõi, chỉ huy hướng trận phía trước ở mạn nam-Ngọc Hồi-bất ngờ, thảng thốt, chỉ kịp đập kiếm lệnh xuống bàn, thét câu: “Địch trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên à?” và nhảy ngay lên con ngựa chưa kịp thắng cả yên cương, vượt sông Cái (sông Hồng) cắm đầu chạy một mạch về nước, sau khi may mắn nhờ vứt bỏ cả ấn tín, giấy tờ… mà thoát khỏi được chiếc bẫy chẹn đường ở Phượng Nhãn của Đô đốc Lộc vừa kịp đến giương lên ở đấy.

Người dân Thăng Long đón vua Quang Trung ngày Mùng năm Tết

Chiến dịch giải phóng Thăng Long vậy là kết thúc thắng lợi trọn vẹn vào ngày Mồng Năm Tết. Hiện chưa thể biết rõ hết, trong ngày Mồng Bốn Tết trước đấy, phương thức thông tin liên lạc để “điều binh khiển tướng” đã được vị Hoàng soái Tây Sơn Nguyễn Huệ thực hiện cụ thể như thế nào, để có thể tạo ra được sự phối hợp nhịp nhàng đến mức thần diệu như vậy giữa năm cánh quân, đúng là năm ngón tay của một “Bàn tay xòe chỉ thẳng”, nhưng lại là những đơn vị lớn, hoạt động với những nhiệm vụ trọng đại khác nhau và ở xa nhau! Tuy nhiên, chắc chắn là trong một ngày đánh trận Ngọc Hồi chậm lại ấy, những công việc vô cùng cần thiết nhưng tinh tế và khó khăn, phức tạp cực kỳ như thế, đã được tổ chức thực hiện một cách tuyệt vời!



Xem thêm: NHỮNG CÁI TẾT OAI HÙNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ CỦA VN