Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Câu chuyện ở cửa hàng của Nordstrom

Lời kể của anh Nguyễn Hải Ninh - Founder/CEO của The Coffee House:
...Trong một lần tôi tới Mỹ, tôi bước vào một cửa hàng của Nordstrom (một chuỗi bán lẻ nổi tiếng của Mỹ) định mua một đôi giày Adidas, cỡ 38, màu xám, được giảm giá 30%.

Tuy nhiên khi tới cửa hàng, đôi giày đã được gom vì có người khác đã mua.

Nhân viên cửa hàng đã làm một điều mà không bao giờ tôi có thể ngờ được. Họ chạy qua bên đường mua đúng đôi giày đó của đối thủ với mức giá không được giảm giá chỉ để mang về bán cho tôi với giá giảm 30%.

Với hành động này, ngay lập tức họ mất 30% giá trị đôi giày, nhưng cái họ được là khách hàng của họ (là 
tôi) chia sẻ câu chuyện này với hàng trăm người.

30% đôi giày Adidas sẽ vào khoảng vài chục USD, nhưng họ đã mua được sự hài lòng, và những lời quảng cáo từ chính sự hài lòng của khách hàng khi chia sẻ với bạn bè, người thân.
Một câu chuyện rất đời thường, nhưng khi xử lý "bất bình thường" thì lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, khi đó khách hàng sẽ nhớ mình mãi mãi và sẵn sàng giới thiệu cho bạn bè/người thân của họ một cách say mê. Nhiều khi cứ bỏ ra hàng đống tiền để tìm khách hàng mới, trong khi đó khách hàng cũ thì chưa có sự chăm sóc một cách chuẩn và đúng quy trình....

Chia sẻ của tỷ phú Internet - Jack Ma


Jack Ma - sáng lập và là nguyên Giám đốc điều hành Alibaba Group. Ông cũng là một trong những doanh nhân công nghệ thành công nhất của Trung Quốc, cũng như thị trường châu Á. Trong bài viết, ông đã chia sẻ những kinh nghiệm sâu sắc nhất của mình về cuộc sống và nghiệp doanh nhân.

Tôi luôn tin vào 2 nguyên tắc:

  1. Thái độ của bạn sẽ quan trọng hơn khả năng của bạn.
  2. Tương tự, sự quyết đoán của bạn cũng quan trọng hơn khả năng của bạn.


Bạn không thể thống nhất suy nghĩ của tất cả mọi người, nhưng bạn có thể thống nhất mọi người thông qua một mục tiêu chung.

  1. Đừng bao giờ tin rằng bạn có thể thống nhất suy nghĩ của tất cả mọi người. Đó là chuyện viển vông.
  2. Sẽ có khoảng 30% số người không bao giờ tin bạn. Thay vì để đồng nghiệp và nhân viên làm việc cho bạn, hãy để họ làm việc vì một mục tiêu chung.
  3. Sẽ dễ dàng để thống nhất công ty dưới một mục tiêu chung hơn là thống nhất công ty dưới một người cụ thể nào đấy.


Điều gì làm nên một nhà lãnh đạo thật sự?

  1. Nhà lãnh đạo phải là một người nhìn xa trông rộng, và anh ta phải có cái nhìn sâu sắc hơn một người nhân viên.
  2. Nhà lãnh đạo nên có sự bền bĩ, ngoan cường, và anh ta có thể chịu đựng áp lực mà một nhân viên không thể chịu được.
  3. Nhà lãnh đạo nên có một sự nhẫn nại kiên định và khả năng đương đầu và đối diện thất bại. Do đó, những phẩm chất của một nhà lãnh đạo kiệt xuất là tầm nhìn, sự nhẫn nại, và năng lực của anh ta.

Đừng dính líu vào chính trị
Theo lẽ thường, tiền và quyền lực chính trị sẽ không bao giờ đi chung. Khi bạn làm chính trị, đừng bao giờ nghĩ đến tiền bạc. Ngược lại, khi bạn làm kinh doanh, đừng nghĩ đến dính líu vào chính trị. Khi tiền bạc đụng đến chính trị, nó giống như bạn đụng đến một quả mìn nổ chậm, nó chỉ chực chờ bùng nổ. 

4 câu hỏi chính yếu mà thế hệ trẻ nên tự hỏi

  1. Thất bại là gì? Bỏ cuộc là sự thất bại lớn nhất.
  2. Ứng biến là gì? Chỉ khi bạn trải qua những gian khó cùng cực, những thất vọng vô bờ bến, khi đấy bạn mới hiểu cái gọi là ứng biến.
  3. Nghĩa vụ của bạn là gì: Là cần cù, chăm chỉ, và tham vọng hơn tất cả.
  4. Chỉ những đứa ngốc mới thích dùng miệng để thể hiện. Người đàn ông thông minh sẽ sử dụng trí não, và người uyên bác sẽ thể hiện bằng trái tim của anh ấy.


Chúng ta sinh ra để được sống và thưởng thức cuộc sống này
Tôi luôn tự nói với bản thân tôi rằng chúng ta sinh ra không phải để cắm cúi làm việc, mà sinh ra để thưởng thức cuộc sống. Chúng ta tạo ra những điều tốt đẹp hơn cho cuộc sống. Nếu bạn muốn giành toàn bộ cuộc đời bạn chỉ để làm việc, sẽ có ngày bạn phải hối tiếc.

Không cần biết bạn thành công đến đâu trên con đường sự nghiệp, bạn phải luôn nhớ rằng chúng ta có mặt ở đây là để tận hưởng cuộc sống.

Sự cạnh tranh và tranh đấu lẫn nhau

  1. Những người cạnh tranh gay gắt lẫn nhau là những người ngốc nghếch.
  2. Nếu bạn xem mọi người là kẻ thù, thì những người xung quanh bạn sẽ trở thành kẻ thù của bạn.
  3. Khi bạn cạnh tranh bình đẳng với những đối thủ khác, đừng để xuất hiện sự ghen tức. Sự ghen tức nhỏ nhoi sẽ chỉ làm hại bạn về sau.
  4. Cạnh tranh cũng giống như chơi một ván cờ. Khi chúng ta thua, chúng ta có thể chơi lại một nước cờ khác. Cả hai người chơi đừng nên chiến đấu triệt hạ lẫn nhau.
  5. Một người làm kinh doanh hay một doanh nhân chân chính sẽ không có kẻ thù. Chỉ khi anh ta hiểu được điều này, anh ta mới nhận ra cơ hội luôn luôn rộng mở với tất cả mọi người.


Đừng để phàn nàn trở thành thói quen
Có thể chấp nhận được nếu thỉnh thoảng bạn phàn nàn, rên rỉ về những khó khăn. Tuy nhiên, nếu nó trở thành thói quen, nó sẽ giống như khi bạn uống rượu. Bạn càng cố gắng uống thì bạn sẽ càng khát. Trên con đường đế với thành công, bạn sẽ nhận ra người thành công sẽ không phải là người thường phàn nàn. Thế giới này sẽ không thể nhớ những gì bạn nói, nhưng những gì bạn làm được chắc chắn sẽ không bị lãng quên.

Nhà lãnh đạo sẽ không nên so sánh kĩ năng chuyên môn của anh ta với nhân viên của anh ta. Nhân viên của bạn phải luôn có kĩ năng chuyên môn tốt hơn bạn. Nếu không được như vậy, nghĩa là bạn đã thuê nhầm người

Khám phá dòng suy nghĩ của anh Nguyễn Mạnh Hùng Viettel

Thực sự là rất tiếc vì không được tham dự buổi chia sẻ của anh với cộng đồng IPL. Rất may là có bạn Nguyễn Bá Quá (cộng đồng IPL) có note lại khá chi tiết, tôi chia sẻ lại trên Chuỗi Giá Trị (bài viết có những nhận định chủ quan của người note lại).



Khó khăn lớn nhất của vị trí quản lí là gì?
Khó khăn lớn nhất đối với vị trí quản lí mà sản phẩm của nghề là các quyết định đó là phải chọn ra một trong nhiều có nhiều lựa chọn đúng. (trước 35t, tôi đã từng có suy nghĩ là chỉ có 1 lựa chọn đúng và nhiều lựa chọn sai, nhưng bây giờ thì đã nhận thấy là có nhiều lựa chọn đúng và cũng có nhiều lựa chọn sai luôn).
Có những quyết định ảnh hưởng đến cá nhân một người và gia đình của người đó => Phải xây dựng một nền tảng tư tưởng để khi ra quyết định phải so sánh với hệ thống tư tưởng của mình. Để đảm bảo những quyết định của mình xuyên suốt với nhau. Theo từng mức độ phát triển của công ty thì BGĐ công ty sẽ có những kế hoạch > chiến lược > quản lí chến lược > triết lí (nền tảng tư tuởng), triết lí của Viettel là khoảng 50 trang – là bộ lọc để chọn các phương án.
Triết lí của VT – mỗi ng đều có những cái độc đáo mà ko ai có, họ cần 1 môi truờng để thể hiện ra. Những người mà mình đang nghĩ là họ kém có nghĩa là phần tốt nhất của họ chưa được thể hiện, nếu yêu cầu họ chuyển qua bộ phận mà họ có thể phát huy khả năng thì rõ ràng là có lợi cho cả 2 bên ( tương tự, nếu nhân viên không thể làm tiếp ở công ty, VT ko có từ đuổi , mà chỉ có từ không phù hợp)

Những người ảnh hưởng đến anh Hùng là ai?
Có một trường đại học treo một bức ảnh của một ông đẹp lão, đầu tóc bạc phơ và một người công nhân, tay cầm một cái búa => Điều này có nghĩa là tư duy như 1 triết gia nhưng phải hành động như một người thợ.
Một người nữa mà tôi rất khâm phục đó là anh Liêm – cấp trên của tôi. Mặc dù ông đang ở cấp Tướng, trên tôi rất nhiều, nhưng khi có vấn đề xảy ra, ông nói với tôi rằng nếu có chuyện gì thì phải bước qua xác anh thì mới đến em. Chính chuyện này làm cho tôi rút ra một bài học => Điều đầu tiên của lãnh đạo là phải biết bảo vệ quân của mình.
Người thứ ba mà tôi rất ngưỡng mộ là nhớ mãi đó là người thầy cấp hai của tôi. Thầy chăm cho học trò từ bữa cơm đến chuỵên học, trước khi ăn thầy xem cơm có nóng không, buổi tối thì thầy đến dãy nhà trọ xem có ma không … Người thầy dạy cấp 2 này cứ có học sinh nào tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi thì trưa thầy ko cho về nhà, thầy nấu cơm cho ăn luôn. Khi đi thi thì thầy đạp xe đạp chở đi => Nếu mình là người dẫn dắt người khác và nếu mình ko chăm sóc họ thì họ sẽ không phục mình. Nhưng khi dạy học thì thầy dạy rất nghiêm khắc. Kết hợp sự nghiêm khắc và tình thương thì mới tạo ảnh hưởng lớn đến cấp duới.

Làm thế nào VT thu nhập nhiều người giỏi?
Năm 1998, tôi có sang ICI telecom bên Issarel để hỏi về câu hỏi trên. Bên đó họ trả lời làm tôi rất bất ngờ: Câu hỏi trên là sai!
  • Thứ nhất là không có nhiều người giỏi đâu – 1 000 người mà đem đi test IQ thì có khoảng 10 nguời có IQ cao, trong đó chỉ có 5 người làm kĩ thuật. Sau khi đào tạo thì còn 1-2 người phù hợp với nghề và tổ chức của ông. Như vậy ông muốn tuyển được 100 người thì ông phải giải được bài toán là tìm được 100 000 người! Không khả thi!
  • Thứ hai, giả sử ông có 1 000 người giỏi. Ông phải cố gắng chăm sóc họ thì mới giữ họ lại được. Ông không giữ họ được bằng tiền, mà phải giữ bằng tình. Ít nhất là 1 năm ăn chung với họ một lần, phải biết tên vợ họ, ngày sinh của vợ họ, họ có bao nhiêu người con. Như vậy cũng không khả thi luôn, vì trong 1 năm 365 ngày, nếu ông ăn cơm với lần lượt 1000 người thì không ăn cơm ở nhà bữa nào luôn. Đó là chưa kể ông không thể nhớ hết 1000 cái tên của vợ họ và 2000 cái tên của con họ.
  • Bài toán thứ 3: giả sử có 1000 người giỏi, mà người giỏi có đặc điểm quan trọng là làm mà không cần hỏi ai. Họ đi ra thị trường làm việc, nếu có vấn đề gì thì tự mà họ giải quyết, họ không cần gửi về công ty. Nên họ làm gì và làm như thế nào thì công ty ông không biết luôn. Như vậy khi người đó ra đi thì công ty khó mà có thể tìm được người thay thế. Mà có tìm được người thay thế thì anh này cũng chẳng thể làm như người trước được.
Để giải bài toán này thì bên ICI telecom họ chỉ quản lí có 5 người thôi. Đây là 5 người bộ não của tập đoàn. Tất cả các vấn đề đều gửi về đây cho họ xử lí và họ gợi ý các cách giải. Tất cả tri thức đều tập trung vào 5 người này.
Như vậy tổ chức họ có bộ não thông minh, thay chân nhanh nhẹn và hệ thống thông suốt. 5 người đó đã để lại toàn bộ tri thức cho tập đoàn. Có một sự thật là bất cứ khi nào phân tích bất cứ vấn đề gì thì chỉ có 5% là phức tạp, còn lại thì có thể viết ra một cách tường minh. Bên Viettel có triết lí gọi là triết lí Tôn Ngộ Không, không yêu cầu cao với 95 người mà chỉ cần yêu cầu cao với 5 người mà thôi.
Về vấn đề đào tạo trong công ty?
Một vấn đề nhức nhối nữa là lúc trước VT bỏ tiền ra mấy chục nghìn đô để mời những chuyên gia đào tạo ở nước ngoài về, lo cho họ tiền ăn, ở, còn trả phí đào tạo cao ngất ngưởng cho họ nữa. Những cán bộ của VT sau khi học xong, làm các bài kiểm tra thì đều đạt kết quả hết. Nhưng khi hỏi lại thì chẳng còn nhớ gì.
Bài toán này làm tôi đau đầu nhiều năm, và tôi đã mang đi sang hỏi Đài Loan, công ty Ilink. Họ bảo họ mất 10 năm mới nhận ra được một chân lí: Cách đào tạo tốt nhất là không đào tạo. Bởi vì nếu ông đứng ra đào tạo thì họ nghĩ trách nhiệm của ông, và chả ai coi trọng cả. Ai trả tiền cho họ học 10 năm phổ thông, 5 năm đại học? Ông có trả không? Bây giờ chỉ học chuyên tu có vài tháng mà họ không bỏ tiền ra học được sao?
Hãy dồn trách nhiệm lên họ và hãy nói rằng – anh học thế nào ko biết, chỉ cần yêu cầu anh học được cái này, cái kia…. Nếu ông có làm chăng thì nên làm một bộ tài liệu và đăng lên mạng để bắt nhân viên học theo.
Bây giờ cách học thì có nhiều cách rất khác nhau: học bằng cách nghe; học bằng cách đọc trên mạng, học bằng cách nhìn người khác; học bằng cách gọi điện thoại hoặc mời café những người bạn của mình… Khi ông đưa ra yêu cầu cho họ thì họ sẽ tự biết phải học cách nào và đem lại hiệu quả hơn rất nhiều.
Nếu không đào tạo cho nhân viên thì có phải là mất lợi thế cạnh tranh của công ty không?
Ở đây tôi không nói là công ty không dạy họ gì hết. Chuyện dạy nghề, dạy kiến thức để làm việc là việc của mọi người. Còn chuyện dạy người là chuyện của tập đoàn. Chuyện dạy cán bộ quản lí như thế nào cũng là chuyện của tập đoàn. Vì những điều này thì chẳng ở đâu ngoài công ty có thể dạy được cả.
Viettel có hẳn một bộ binh pháp, các bài học kinh nghiệm cho hệ thống quản lí, việc dạy binh pháp, kinh nghiệm, triết lý là việc thổi hồn vào người ta chứ không phải là cứ đọc mà hiểu được được. Và thường thì việc dạy này sẽ được chính những thành viên BGD thực hiện.

Văn hóa theo kiểu gia đình trong công ty?
Viettel trong những ngày đầu thì chỉ có 5 người: anh Xuân (nay là TGD), tôi, chị Lý (nay là GD PR), và 1 anh sau này bỏ ra mở EVN telecom, và 1 anh nữa, sau này cũng đi làm ở EVN telecom luôn. Do số lượng anh em ít thì mời nhau đi ăn cơm và cùng chia sẻ với nhau hầu như tất cả mọi chuyện. Lúc đó công ty cực kì khó khăn, trong cả 5 năm từ khi có giấy phép mà chưa thể làm gì ra hồn cả. Tôi còn nhớ rất rõ anh Xuân đã có lần nói là: nếu chúng ta phải giải tán thì anh sẽ là người cuối cùng ra đi, nhưng trước khi đi thì anh sẽ tìm việc cho bọn em.
5 năm trước , tôi có đọc được cuốn sách Những người khổng lổ bé nhỏ, trong đó có những doanh nghiệp họ ko muốn vượt quá 200 người, vì họ chỉ muốn công ty đó là 1 gia đình, và có bất cứ vấn đề gì, họ cũng có thể đoàn kết mà vượt qua được. Nhưng với Viettel có quy mô 25 000 nhân viên thì chúng tôi có thể xây dựng các phòng ban. Ngôi nhà của Viettel được xây dựng trên những đơn vị cơ sở là những phòng ban không quá 50 người.
Đây là triết lí to ra mà vẫn ko to ra, vẫn duy trì những ngôi nhà nhỏ. Cái danh hão như Viettel là tập đoàn lớn, nhân viên có mấy trăm nghìn người, là tập đoàn dẫn đầu thế này thế kìa thì chẳng là gì cả… Những nhân viên họ chỉ cần buổi sáng ăn chung với các đồng nghiệp để vợ mình còn biết biết mình đang làm chung với ai, người đó như thế nào là quá đủ rồi.
Khi làm việc mà có tính gia đình thì có sự ảnh hưởng đến sự khách quan của các quyết định của công ty?
Thật ra trong cuộc sống luôn có những vấn đề như thế này. Trong cuộc sống có rất nhiều hoàn cảnh, có những lúc cần sự nghiêm túc rõ ràng, cũng có lúc cần sự ăn cơm và trao đổi như người bạn, có lúc cần như một người anh, có lúc cần như tổ chức các buổi họp mặt các cặp vợ chồng với nhau. Vấn để ở đây là phải biết dung hòa, và phải biết khi nào cần nghiêm túc rạch ròi, khi nào cần tình cảm mà giải quyết. Như bên Nhật thì họ ưu theo trường phái gắn bó cả đời. Còn ở Mỹ thì rất rạch ròi trong công việc.
Một ví dụ nữa là như ở Mỹ có 2 đảng – nếu họ muốn thể hiện sức mạnh quân sự, thì họ đưa đảng cộng hòa lên, đưa quân đi đánh các nước khác ầm ầm; còn khi họ thấy kinh tế đang trì trệ, người dân đang mệt mỏi thì họ đưa đảng Dân chủ lên để kích cầu, chăm lo kinh tế, nâng GDP lên. Nhưng có một điều cần phải lưu ý là khi đã quyết định dùng cách nào thì phải dứt khoát theo cách đó chứ không phải cứ lằng nhằng.
Ngay cả trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng sẽ gặp những chuyện như vậy, cần xác định rõ – chiều vợ trong việc ủi quần áo nhưng không chiều trong chuyện dạy con. Vì dạy con là chỉ có ông chồng mới dạy nó nên người thôi.

Vấn đề tính đoàn kết trong công ty, bè phái đấu tranh nội bộ …?
Chúng ta cùng phân tích vấn đề tại sao lại không đoàn kết – thuờng thì chúng ta đoàn kết khi chúng ta chung một con thuyền và khi có đánh nhau với bên ngoài thì tinh thần đoàn kết bên trong lại dâng cao. Có một điều rõ ràng là doanh nghiệp khi lập nghiệp thì mọi chuyện ổn, còn khi thành công thì lại có nhiều bất ổn xảy ra. Điều kiện của đoàn kết là khó khăn, là gặp nguy hiểm, là khi chúng ta bắt buộc phải đoàn kết.
Như vậy, người chỉ huy của 1 tổ chức phải tạo ra liên tục những khó khăn nguy hiểm để tổ chức phát triển và để mọi người đoàn kết với nhau. Triết lý của Viettel: Khi thành công thì phải khởi tạo một cuộc hành trình mới. Thành công ở trong nước thì tiến sang đầu tư nước ngoài. Nếu không còn khó khăn thì Viettel không có lí do tồn tại. Anh em trong BGD đều có chung quan điểm là nếu ko tìm ra thử thách mới thì giải tán công ty luôn vì nếu không có thử thách thì sẽ xảy ra đấu đá nội bộ với nhau … lúc đó đau đầu lắm, thôi giải tán cho rồi.
Và có một điều là cũng phải tạo ra một nền tảng tư tưởng để giải quyết bài toán chung.
Một ví dụ trong trường hợp này là 2 tuần trước, tôi có hỏi anh thủ trưởng bên Singapore về về chiến lược của đất nước họ là gì khi hiện tại họ đã là 1 trong 3 nước có GDP cao nhất thế giới. Giờ mục tiêu đã đạt được rồi thì làm gì?
Anh ta trả lời đúng là sau 30 năm phấn đấu giờ đã trở thành một trong ba nước có GDP cao nhất thế giới. Sau khi tự hào rồi thì giờ ko biết đi đâu cả, không biết làm gì nữa cả.
Rất may mắn là cách đây 3 năm thì có một người cũng có vai vế lắm, hỏi chính phủ singapore: singapore là một nước hay là một thành phố? Nếu singapore là một nước thì có GDP lớn thứ 3 thế giới. Còn khi xét Singapore là một thành phố thì nó chỉ đứng thứ 64 so với các thành phố khác mà thôi. Sự thật này làm người dân singapore lập tức đoàn kết với chính phủ để tiếp tục phấn đấu đưa thành phố Singapore vượt qua các nước khác. Chỉ là thay đổi cách nhìn về vị trí hiện tại của mình mà đã có thể thay đổi cả một đặc tính của dân tộc, từ chia rẽ mà trở nên đoàn kết.
Áp dụng vào trong công ty thì cũng như vậy. Nếu anh điều hành một công ty thì đừng bao giờ để nhân viên ngồi chơi. Vì cứ ngồi chơi thì sẽ uống nước trà, và cứ sau 5 phút uống nước trà là lại kiếm chuyện để nói xấu người khác.
Việc mà Viettel đầu tư ra nước ngoài là tầm nhìn từ ban đầu hay khi lớn mạnh? Việc đầu tư nước ngoài là muốn tạo thách thức hay đã nằm trong kế hoạch ban đầu? Câu chuyện này nếu áp dụng đối với doanh nghiệp VN thì nên có chiến lược từ khi còn nhỏ hay khi có được 1 nền móng lớn mạnh như Viettel?
Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến câu chuyện Thế Giới Phẳng – nếu chúng ta giỏi thật giỏi về một cái thì chúng ta đánh được cả thế giới. ví dụ đơn giản như nếu làm đc 1 cái micro mà ko bao giờ bị rè thì đem bán được cho cả thế giới, vì rõ ràng là người ta làm cái micro này cả mấy chục năm rồi mà cái nào cũng bị rè cả.
Sức mạnh cạnh tranh lớn nhất của Viettel là mình thấy mình nghèo nhất. So với mấy đại gia như: Singtel , Tellecom malaysia, Vodaphone,… thì Viettel chả là cái đinh gì cả. Nhưng các công ty đó đều ở các nước giàu có thì làm sao nhân viên họ dám đánh sang Haiti? Nếu đầu tư vào nước nó mà không chuyển người quản lí qua đó thì dân bên đó nó xài hết. Khi Mỹ thấy người VN đi qua đó thì đi vé máy bay economy, thuê 1 nhà cho 10 người ở , và cùng nấu cơm với nhau để ăn… thì Mỹ biết là họ cạnh tranh ko nổi rồi.
Như vậy Viettel biết mình nghèo thì chúng tôi nghĩ các cách này cách kia để đánh với mấy công ty khác.
Vietel đầu tư ra nước ngoài cũng là muốn củng cố tổ chức, tạo thách thức mới cho đội ngũ quản lí (nếu nhân viên anh làm được 10 mà anh giao 8 thì tổ chức của anh thế nào cũng đi xuống, còn nếu anh giao 13 thì thể nào cũng phát triển). Ngoài ra, cũng cần phải tạo cơ hội như vậy cho những người trẻ. Mà cách duy nhất để tạo cơ hội cho họ là phải tạo ra một công ty mới và cho họ tung hoành trong một thị trường mới.
Khát vọng ra nước ngoài đã manh nha trong những lãnh đạo của Viettel từ rất lâu rồi, chúng tôi đã từng có nhiều cảm giác muốn chinh phục thế giới, đã từng có cảm giác gặp người nước ngoài ở VN là sợ họ lắm, cứ nghĩ họ to tát… Và vì có khát vọng ra nước ngoài đó nên khi có cơ hội thì chúng tôi quyết định rất nhanh.
Ví dụ điển hình là Campuchia nhỏ như vậy mà chúng tôi đã thu được lợi nhuận 60 triệu $, Lào 80 triệu $. Haiiti lại có nhiều tiềm năng cao hơn nữa. Câu chuyện haiiti – là hay bị động đất. mình sang đã có sẵn 2 công ty viễn thông của họ. Do động đất nên không công ty nào dám đến, và khi động đất thì 2 công ty của họ cũng trở về con số 0 như mình. Hơn nữa do không ai dám đến nước họ đầu tư nên họ rất trân trọng mình. Đó cũng là một lợi thế nữa. Cũng nhờ có động đất thì cả thế giới mới biết về họ. thế là họ có 1tỉ 500tr đô. Nếu không có động đất thì làm sao mà Haiiti lại có số tiền đó!
Như vậy mọi chuyện chỉ khác nhau ở cách nhìn mà thôi. Tất cả những gì người khác nghĩ là điểm yếu thì với chúng ta đó là điểm mạnh. Bản chât của con người rất là khó phát hiện. Vd bất cứ ai học nhiều, thì khi nói chuyện đều cố gắng gây ấn tượng, nên thường thì khi tiếp xúc với họ thì mình ko nhận dạng được bản chất của họ đâu. Còn cái mà người đó không dấu được thì đó chính là tật xấu, và cái gì mà họ không che được thì đó là bản chât của họ. Và cứ hễ có một tính xấu là có một tính tốt. Như vậy cứ đi tìm cái xấu thì sẽ thấy được cái tốt.
Người thông minh thì việc mới lạ họ làm rất tốt. nhưng sang hôm thứ hai họ bắt đầu chán và lơ là, hôm thứ ba thì có thể làm hỏng vịêc => người này có tố chất. Nếu một người làm cùng một việc trong ba ngày thì có nghĩa là người này rất chậm chạp.

Cái khó nhất trong tuyển người và dùng người là tìm ra tố chất của con người?
Cách tìm ra tố chất: với một người mà có tâm tĩnh thì khi đẩy người đó vào thế bối rối, người đó vẫn có thể trả lời lưu loát. Còn người có tâm không tĩnh thì quên tất cả và bộc lộ bản chất của họ.
Hơn nữa, người hiểu thật sự là người áp dụng cái họ học được vào việc cụ thể. Ai mà áp dụng, ánh xạ được cái họ vừa trình bày vào một ví dụ cụ thể thì người đó là người học hiểu, còn nếu ngược lại thì người đó là người học thuộc lòng.
Một điểm nữa là khi nói chuyện mà thấy của người đó mắt sáng lên, mặt giãn ra là người đó rất sáng tạo.

Vấn đề sáng tạo trong công ty: mình phải nghĩ đến làm lâu dài, làm khác đi?
  • Bài học 1: Suy nghĩ của đa số mọi người – hàng kĩ thuật cao là chỉ của giới người giàu mà thôi. Còn suy nghĩ của Viettel là hàng kĩ thuật cao, nếu bán được nhiều thì giá của nó hoàn toàn có thể đến được người dân bình thường => phải có nền tảng và triết lí khác biệt thì mới dám làm.
  • Bài học 2: Suy nghĩ của đa số mọi người – công nghệ bị phụ thuộc vào GDP. Tỉ lệ phát triển của ngành viễn thông phụ thuộc vào tỉ lệ phát triển của GDP. Viettel lại thấy là tại sao phải phụ thuộc như vậy? Mình cứ bán cho nhiều người với giá rẻ thì sẽ có doanh thu nhiều và có thể kích thích GDP tăng cao.
  • Bài học 3: đa số các nhà mạng đưa sóng vào thành phố, nếu Viettel cũng làm như họ thì người ta chưa chắc đã biết đến Viettel, và cao lắm thì Viettel cũng chỉ phát triển như họ mà thôi. Còn nếu Viettel mà đưa sóng ra nông thôn, thì khi dân thành phố họ về quê, họ sẽ thấy – chẳng nhà mạng nào ngoài Viettel có sóng cả. Nếu ở quê mà sóng Viettel mạnh vậy thì sóng trên thành phố còn tốt hơn. Thế là người ta lại quay sang chọn Viettel ngay.
  • Bài học 4 : bản thân tôi không có ước mơ rõ ràng từ trước, nhưng khi rơi vào 1 việc nào đó thì luôn cố gắng làm việc đó một cách tốt nhất. Ví dụ như bình thường thì không sao, nhưng khi rơi vào một cô bé nào đó thì mới bắt đầu mơ ước, đặt mục tiêu là có 1 cái nhà, 2 đứa con…
  • Bài học 5 : cách học tập của cán bộ quản lí tại Viettel. Các cán bộ quản lí của Viettel làm việc rất nhẹ nhàng. Khi có việc gì đó thì họ cứ đọc tài liệu thôi, và khi đọc thì họ hiểu hoàn toàn và họ có thể áp dụng được. Kĩ năng đọc và hiểu 100% những điều mà câu, chữ đó nói, là kĩ năng mà đa số người VN đang thiếu. Ví dụ, chúng ta dùng những từ nghe rất oách như: quản lí, lãnh đạo, thành công, cái tâm, … Nhưng khi phân tích ra thì lại chẳng rõ ràng tí nào cả. Tôi chỉ yêu cầu các người quản lí của tôi đọc gì và hiểu hết và áp dụng được cái đó là được. Vấn đề này nhìn chung là của toàn thế giới, và nếu mình có thể làm được thì người VN mình chắc chắn sẽ hơn rất nhiều nước rồi.
Vấn đề khó khăn và cách vượt qua khó khăn?
Khi người ta gặp khó khăn, thất bại thì đó là thời gian để người ta ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm, về công ty, về đồng nghiệp, về đối thủ…. và đó cũng là lúc để người ta nghĩ khác đi. Những lúc thất bại là những lúc mà người ta có suy nghĩ sâu sắc nhất, đáng để chúng ta học hỏi nhất.
Ví dụ như lúc công ty khó khăn thì đó là cơ hội để người ta cải tổ bộ máy công ty. Vì đang yên đang lành làm sao mà cải tổ bộ máy công ty được.

Khi nhân viên công ty có vấn đề, và cứ la làng lên thì cách giải quyết như thế nào?
Nếu 25 000 nhân viên mà mỗi người gặp 2 vấn đề thôi, họ la làng lên thì chẳng ai mà giải quyết nổi. Ở Viettel có triết lí là – khi nêu vấn đề thì phải làm thêm 4 việc là trả lời 4 câu hỏi : nguyên nhân của vấn đề là gì ? giải pháp như thế nào ? ai giải quyết vấn đề đó ? cách kiểm tra như thế nào ?
Như vậy, khi nhân viên họ gặp vấn đề, và sau khi họ trả lời được 4 câu hỏi đó rồi thì họ tự giải quyết vấn đề luôn. Những vấn đề lớn, khó khăn, khi gửi lên BGD thì cũng đã có các cách giải để tham khảo rồi … Nhưng nếu không có triết lí này thì BGĐ tối ngày đi giải quyết vấn đề thôi là cũng đủ mệt.

Chiến lược của Viettel là gì khi không thể cạnh tranh về giá?
Triết lí của Viettel về cạnh tranh đó là : biến tất cả mọi thứ thành cộng đồng. Câu chuyện của thế kỉ 20 là : có đủ ăn đủ mặc. Nhưng câu chuyện của thế kỉ 21 là cá thể hoá cho từng nhóm người. Và sự khác biệt về văn hoá là sự KHÁC BIỆT BỀN VỮNG. Khi mà không ai có thể cạnh tranh với anh nếu họ không hiểu được văn hoá của khách hàng anh.
Ví dụ như : Viettel muốn làm 3 triệu cái điện thoại mà chỉ có 3 nút : 1 là nút gọi cho ba, 2 là nút gọi cho mẹ, 3 là nút gọi về nhà. Như vậy là học sinh tiểu học và trung học nào cũng có thể sử dụng điện thoại, và ba mẹ của chúng hoàn toàn có thể yên tâm, không sợ con mình nhịn đói để nạp card điện thoại để rồi tối về nằm trong màn cứ bấm bấm nhắn tin …

Nguyễn Bá Quá – IPL Forum

7 giai đoạn của quá trình kinh doanh

Nội dung này đọc và bàn luận cách đây 9 năm, giờ đọc lại vẫn thấy hay (và đang rất đúng và "thời sự" với một số tình huống hiện tại). Thế nên cọp về pốt lại để thi thoảng ngó xem mềnh đang ở giai đoạn nào ;)





Những ai lao vào con đường kinh doanh, nuôi chí trở thành ông chủ doanh nghiệp nên biết rằng từ ngày đầu thành lập cho đến lúc tan rã trong kinh doanh họ sẽ phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Trên thực tế tiến trình của con đường kinh doanh gồm có 7 giai đoạn. Nắm được 7 giai đoạn đó và biết cách lên kế hoạch sắp xếp cho chúng là điều hết sức quan trọng để đạt được những bước thành công trong kinh doanh của các chủ doanh nghiệp.



1. Giai đoạn "gieo hạt"
Đó là giai đoạn mà việc kinh doanh chỉ tồn tại trong suy nghĩ hay nói cách khác đó chỉ là ý tưởng, ý đồ kinh doanh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn "khai sinh" doanh nghiệp mới. Hầu hết các công ty trong giai đoạn này sẽ cần vượt qua thử thách: chấp nhận thị trường và theo đuổi 1 thời cơ thích hợp riêng biệt. Trong giai đoạn này chủ các doanh nghiệp nên cẩn trọng, không nên rải các nguồn tài chính quá mỏng.
Điểm trọng tâm của giai đoạn này làm sao chọn thời cơ kinh doanh phù hợp với kỹ năng, kinh nghiệm và niềm đam mê để khởi nghiệp. Và cũng đừng quên những điểm mấu chốt quan trọng khác đó là: quyết định chọn cơ cấu quyền sở hữu doanh nghiệp, tìm cố vấn chuyên nghiệp, và lập kế hoạch kinh doanh.
Những nguồn tài chính cho việc phát triển trong giai đoạn này có thể rất khó khăn để định vị. Bởi lẽ ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ phải tự tìm kiếm thị trường, khách hàng cho chính mình. Doanh nghiệp có thể sẽ phải dựa vào nguồn vốn vay mượn từ chủ sở hữu, bạn bè, gia đình, hay các nhà đầu tư cá nhân. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể sử dụng vốn từ nguồn khác như: nhà cung cấp, khách hàng, các khoản viện trợ của chính phủ.

2. Giai đoạn khởi động
Doanh nghiệp vừa được hình thành và tồn tại một cách hợp pháp. Các sản phẩm và dịch vụ hiện đã đi vào sản xuất và đã có những khách hàng đầu tiên. Trong giai đoạn kinh doanh này, những đòi hỏi về vốn và thời gian tìm kiếm thị trường được đánh giá khá cao. Và thử thách căn bản ở đây đó là không được để những khoản tiền dù là nhỏ nhất tuột khỏi tay. Chủ doanh nghiệp phải học cách khảo sát "tính thực tế" những nhu cầu từ phía khách hàng có thể mang lại lợi nhuận và chắc chắn rằng việc kinh doanh đang đi đúng hướng.
Giai đoạn khởi động đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập cơ sở khách hàng và thị trường cùng với nguồn ngân lưu được kiểm soát và theo dõi. Nguồn vốn hỗ trợ cho sự phát triển trong giai đoạn này có thể kêu gọi từ người sở hữu, bạn bè, gia đình, nhà cung cấp, khách hàng, đi vay hay các khoản viện trợ.

3. Giai đoạn phát triển
Ở giai đoạn này, doanh nghiệp đã trải qua "những năm chập chững biết đi" và nay phát triển thành một "đứa trẻ" thực sự. Các khoản doanh thu và khách hàng đang tăng lên điều đó đồng nghĩa với sự xuất hiện của những thời cơ mới cũng như những thách thức mới. Lợi nhuận sinh trưởng kéo theo tính cạnh tranh cũng tăng. Thử thách khốc liệt nhất trong giai đoạn này mà công ty phải đối mặt với đó chính là thực đơn không đổi các vấn đề đưa ra để giành lấy thời cơ và các nguồn tài chính. Để làm được điều đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả cao và có thể lên kế hoạch kinh doanh mới. Học hỏi để đào tạo nhân viên như thế nào cũng như việc quản lý và nghệ thuật giao phó, uỷ thác là chìa khoá cho sự thành công của giai đoạn này.
Chu trình nhịp sống tăng trưởng của các doanh nghiệp dựa trên sự vận hành của chính doanh nghiệp ấy theo một cách thức chuẩn hơn nhằm đáp ứng với khối lượng bán hàng và lượng khách hàng ngày càng tăng. Do đó doanh nghiệp cần áp dụng những hệ thống quản lý, phương pháp tính toán và vận hành tốt hơn. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm và tuyển dụng những nhân viên có khả năng xử lý tốt các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh. Nguồn vốn doanh nghiệp có thể tận dụng trong giai đoạn này đó là vay từ ngân hàng, từ lợi nhuận, đối tác, viện trợ và những lựa chọn cho thuê.

4. Giai đoạn ổn định
Trong giai đoạn thiết lập việc kinh doanh của công ty dường như đã "chín" và phát đạt với số lượng khách hàng trung thành chiếm vị trí trên thương trường. Tăng trưởng bán hàng không còn bùng nổ như trước nhưng vẫn duy trì trong tầm kiểm soát. Việc kinh doanh cũng trở thành một "thói quen" với các tiến trình tại chỗ nhằm bảo đảm cho tính kiên định, lâu dài đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Giai đoạn này doanh nghiệp có thể "tạm nghỉ ngơi" và hài lòng với những thành tích đã đạt được. Chủ doanh nghiệp đã làm việc cật lực và cũng cần thư giãn, tuy nhiên thương trường vô cùng tàn nhẫn, khốc liệt và mang tính cạnh tranh cao. Do vậy doanh nghiệp cần có một điểm tựa vững mạnh hơn trong hình ảnh lớn hơn. Những vấn đề như nhân tố kinh tế, tính cạnh tranh hay sự thay đổi thị yếu của khách hàng cũng như xu hướng có thể nhanh chóng làm cho mọi cố gắng trên của doanh nghiệp trở thành "công cốc công cò". Do vậy chu trình nhịp sống của doanh nghiệp được thiết lập sẽ phải dựa trên những cải tiến và hoạt động năng suất.
Để có thể cạnh tranh được với thị trường vốn, chủ doanh nghiệp sẽ cần đến những hoạt động kinh doanh tốt hơn và quy mô lớn hơn cùng với kỹ thuật tự động hoá và đổi mới các thiết bị nhằm cải thiện năng suất kinh doanh. Nguồn vốn cho giai đoạn này có thể lấy từ các khoản lợi nhuận, vay ngân hàng, nhà đầu tư và các khoản viện trợ của chính phủ. Con đường kinh doanh gồm 7 giai đoạn nhưng không phải chúng diễn ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh.

5. Giai đoạn mở rộng
Sự tăng trưởng mới trong thị trường mới và các kênh phân phối là những đặc trưng cơ bản dễ thấy trong giai đoạn này. Đây là giai đoạn cho sự lựa chọn của các ông chủ doanh nghiệp nhỏ nhằm chiếm lĩnh những phần lớn hơn của cổ phần thị trường và tìm kiếm nguồn doanh thu mới cũng như các kênh kinh doanh khác mang lại lợi nhuận. Việc mở rộng vào những thị trường mới đòi hỏi sự nghiên cứu và lên kế hoạch cho việc kinh doanh ở giai đoạn "gieo hạt" và "khởi động". Chủ doanh nghiệp nên tập trung những công việc kinh doanh mạo hiểm một chút. Điều này sẽ làm giàu thêm khả năng hiện tại và kinh nghiệm của chính họ.
Tiến lên phía trước lao vào những lĩnh vực kinh doanh mới không liên quan có thể là cách thử sức với những thử thách tàn khốc. Cụ thể là doanh nghiệp nên tăng thêm những sản phẩm, dịch vụ mới và tung ra thị trường hiện tại hay mở rộng những sản phẩm dịch vụ đã có vào thị trường mới, vào các đối tượng khách hàng khác nhau và hoặc thị trường định hướng tới. Nguồn vốn cho giai đoạn mở rộng có thể lấy từ liên doanh, các ngân hàng, nhà đầu tư mới, đối tác.

6. Giai đoạn suy thoái
Những thay đổi về điều kiện thị trường, xã hội, nền kinh tế có thể làm giảm số lượng bán hàng, do đó lợi nhuận cũng giảm theo. Vấn đề này có thể làm cho nhiều doanh nghiệp nhỏ phá sản nhanh hơn. Bởi các doanh nghiệp trong giai đoạn này sẽ phải đương đầu với rất nhiều thử thách như lợi nhuận và doanh số bán hàng suy giảm, dòng ngân lưu có thể rơi vào tình trạng thâm hụt. Vấn đề lớn nhất đó là kéo dài thời gian để doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho dòng ngân lưu đang không mấy khả quan này.
Chủ doanh nghiệp có thể bắt đầu tự hỏi liệu đã đến lúc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của chu trình nhịp sống doanh nghiệp - giai đoạn từ bỏ (tan rã) hay chưa. Họ cũng nên tìm kiếm những cơ hội mới, những mạo hiểm kinh doanh mới. Biện pháp cắt giảm chi phí và tìm ra những hướng đi mới nhằm mở rộng dòng ngân lưu là những việc làm cấp bách, cần thiết cho giai đoạn này. Nguồn vốn có thể huy động từ nhà cung cấp, khách hàng, những người sở hữu.

7. Giai đoạn tan rã
Giai đoạn này là thời điểm toàn bộ cả năm cố gắng và làm việc vất vả lao vào kinh doanh đồng khởi ra đi, hoặc nó có thể hiểu đơn giản là chấm dứt công việc kinh doanh toàn bộ. Việc bán doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi, nó đòi hỏi phải đánh giá thực tế tình hình công ty kỹ càng. Những năm làm việc cật lực để xây dựng công ty đôi khi thật khó khăn nén lại để xem xét đánh giá tình hình thực tế để quyết định đâu là giá trị đích thực của công ty (vị thế của công ty) trong thương trường hiện tại.
Nếu một ông chủ doanh nghiệp bắt đầu tìm cách để đóng cửa doanh nghiệp, thì ông ta sẽ phải đối mặt với thử thách liên quan đến vấn đề tài chính và tâm lý của sự thua lỗ. Đó là việc cần thiết để có được giá trị đích thực và chuyên nghiệp của công ty. Chủ doanh nghiệp cũng nên xem xét cách vận hành, rào cản cạnh tranh và cách quản lý sao cho công ty có thể đáp ứng và làm hài lòng khách hàng.
Trong giai đoạn này, việc thiết lập văn bản thoả thuận mua bán hợp pháp cùng với kế hoạch chuyển nhượng kinh doanh là điều rất quan trọng. Và nguồn vốn cho giai đoạn này chính là đối tác đánh giá kinh doanh. Các cố vấn tài chính và kế toán có thể đưa ra chiến lược thuế tốt nhất để quyết định xem nên bán hay đóng cửa doanh nghiệp.


Chú ý:
Các giai đoạn của chu trình nhịp sống doanh nghiệp chắc chắn sẽ không xảy ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh. Số khác có thể không tiến đến giai đoạn mở rộng và chỉ dừng ở giai đoạn ổn định. Thành công rực rỡ hay thẩt bại thảm hại trong kinh doanh là tuỳ thuộc vào tài năng của chủ doanh nghiệp thích nghi với các thay đổi của chu trình cuộc sống.

Điều mà họ nên làm là tập trung và áp dụng các biện pháp nhằm giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn đó. Và những biện pháp này sẽ có tác động đến công ty sau này. Hiểu được việc áp dụng những giai đoạn nào trong chu trình kinh doanh là thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được bất kỳ thách thức nào phía trước và đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn.

Làm lập trình viên hay không làm lập trình viên?

Loạng quạng qua bờ lốc của một chú trên Yahoo 360 thấy cái bài viết này, ngứa tay copy về đây phán "náo" một tý.

Hợ, làm gì có cái nghề nào gọi là "nhàn và nhiều tiền", đứng núi này trông núi nọ thì đến chết vẫn chưa hiểu chuyện gì cả.

Phán thế thôi, copy về đây để đờ cờ (đ/c) nào lạc qua đọc tý chơi



Được nghỉ 3 ngày nên ngồi suy ngẫm về cái nghiệp lập trình viên mà mình đang theo đuổi. Image
Tường thuật từ một buổi ăn trưa
Một dịp hiếm hoi tôi được ngồi ăn trưa với mấy đứa bạn học chung hồi đại học. Cả bọn đều đang làm cho các công ty phần mềm lớn, ngót ngét cũng được hơn 2 năm rồi.

- Dạo này bên mày "cày" dữ không?
- Cũng như trước. Bị bên kia nó dí giữ quá.
.......
- Bây giờ tao nhận ra rằng đi làm phần mềm là một sai lầm. Tưởng rằng lương cao chứ thật ra chẳng bằng ai. Tao thấy mấy đứa bạn đi làm mấy ngành khác sướng hơn nhiều. Mấy đứa đi làm sales giàu quá trời.
- Còn mấy đứa bạn tao đi làm bên ngành ngân hàng cũng đã lắm.
- Tính ra thì học y hoặc dược hơi cực nhưng bây giờ đứa nào cũng ngon lành.

Câu chuyện tiếp tục với đề tài liên quan đến các ngành nghề khác. Ở thời buổi này thì cả bọn thấy làm nghế gì cũng sướng hết, vừa có thu nhập cao lại vừa lý thú, trừ cái nghề lập trình viên mà cả bọn đang theo đuổi!

Hỡi ôi! Cái nắng đổ lửa của Sài Gòn cũng không làm tôi choáng bằng nỗi băn khoăn về cái nghề mà mình đang theo đuổi. Ai cũng đổ xô đi học công nghệ thông tin, ai cũng nói ngành này là "hot" nhất, triển vọng nhất, tốt nhất, và sướng nhất. Image Thế mà ngay ở đây, những kỹ sư phần mềm mà kinh nghiệm làm việc còn ít hơn cả "kinh nghiệm" ngồi trên ghế giảng đường Đại học, với bao ước mơ, hoài bão và nhiệt huyết, lại có cái nhìn thực tế thật phũ phàng vậy.

Ok. Phần "tâm trạng" mở đầu như vậy là đủ rồi. Bây giờ tôi thử liệt kê những cái "nghĩ quẩn" của mình về nghề lập trình viên (hay là kỹ sư phần mềm, hay là chuyên viên phát triển phần mềm, hay là thợ code, hay là công nhân kỹ thuật cao, hay là những chuyên viết chat Yahoo! lén,...)

1) Làm phần mềm không có thu nhập cao
Đây là thực thế phũ phàng nhất đang đè nặng lên đầu óc của các lập trình viên chúng ta, nặng đến nỗi đôi lúc có người không thể đè nỗi phím Shift trên bàn phím. Image
Vâng, theo tất cả các khảo sát về tiền lương thì làm việc trong ngành CNTT sẽ có mức lương cao nhất.

Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Mức lương khởi đầu thì cao thật, nhưng sau đó thì... Làm sao ta có thể toàn tâm toàn ý fix bug được nếu như biết được đứa bạn cấp III của mình bây giờ đang làm cho các tập đoàn kinh tế nước ngoài với mức thu nhập trên 10 triệu. Làm sao không thể nóng đầu được nếu như biết được lúc mới ra trường mức lương của nó chỉ bằng phân nửa của ta. Image
Vâng, lương khởi điểm thì cao nhưng tăng không nhanh. Có tăng thì cũng tăng không nhiều. Có nơi chịu tăng nhiều thì không có thưởng. Ngoài những cái đó thì chẳng còn thu nhập nào khác, cũng ít có cơ hội để "đánh lẻ" bên ngoài vì công việc chính đã quá bận rộn rồi.

2) Làm phần mềm lại rất cựcCái cực đầu tiên là áp lực thời gian. Điều này thì không cần phải nói nhiều rồi. Image
Bây giờ nói đến môi trường làm việc. Nếu ai chưa từng làm phần mềm thì có thể hình dung thế này.
Thử tưởng tượng bạn bước vào một khu nhà rộng lớn, rất yên tĩnh và hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Bạn bước đến cửa ra vào và biết rằng ở đây những người bảo vệ làm việc 24 giời/ngày, suốt 365 ngày/năm. Bước vào bên trong nữa, bạn sẽ thấy ở đấy không khí rất âm u, hoàn toàn không có ánh sáng tự nhiên. Cũng dễ hiểu thôi, vì mọi nơi ở đây đều không có cửa sổ. Nếu có cửa sổ thì cũng luôn bị đóng kín lại.

Bạn bước vào sâu hơn nữa và thấy các căn phòng được ngăn ra, bên trong từng căn phòng lại được ngăn ra thành từng buồng nhỏ hơn nữa. Mỗi buồng đều có diện tích như nhau, rất chật hẹp, và được bài trí, trang bị vật dụng giống hệt nhau. Trong đó có đặt ít nhất một bộ máy vi tính, nhưng vì diện tích không gian quá nhỏ nên nó chiếm gần hết khoảng không, chỉ còn lại vừa đủ cho bạn ngồi vào đó. Bạn sẽ không thể đi lại thoải mái được, không thể nằm ra, thậm chí xoảy trở vận động cũng khó khăn vì quá chật hẹp.

À, bạn cũng phải đeo một cái thẻ có ghi một mã số trên túi áo. Bạn sẽ nhận ra rằng mọi người ở đây cũng đều đeo thẻ có mã số như vậy. Và bạn chỉ có thể tự do trong khoảng không gian chật hẹp của mình; bạn không được tự do đi sang khu vực khác, thậm chí không được sang buồng bên cạnh và đụng đến bất kỳ vật dụng gì ở đó.

Chưa hết, bạn không được làm ồn và ảnh hưởng, dù nhỏ nhất, đến những buồng xung quanh.

Và mỗi ngày sẽ có một người có chức vụ ở đây (tạm gọi là đốc công) đến giao cho bạn một số nhiệm vụ phải hoàn thành. Bạn sẽ làm việc trong buồng của mình, với những dụng cụ cung cấp sẵn. Không như những công việc ở thế giới bên ngoài, ở đây họ thực thi chế độ làm việc "tự do giờ giấc". Điều đó có nghĩa là gì? Điều đó có nghĩa là có những người ở cấp cao hơn nữa giao cho những viên đốc công các nhiệm vụ, và định các nhiệm vụ đó theo đơn vị thời gian là ngày, tuần, hoặc tháng. Đến phiên các đốc công này sẽ chia nhỏ các nhiệm vụ đó ra rồi giao lại cho những người như bạn. Điều kỳ lạ mới xảy ra ở đây. Cái mà viên đốc công nhận là một công việc cần n ngày, nhưng vì bạn được quản lý theo chế độ "tự do giờ giấc", cho nên cái gọi là n ngày đó hoàn toàn không có ý nghĩa đối với bạn. Bạn có thể phải bỏ ra n nhân với 8 giờ để hoàn thành nó, hoặc có thể phải cần đến n nhân với 12 giờ, hoặc n nhân với 18 giờ, hoặc là (n+x+y+z) nhân với 18 giờ. Cái mà viên đốc công cần ở bạn là kết quả cuối cùng.

Được rồi. Tôi tạm dừng ở đây để hỏi bạn một câu:
Bạn nghĩ xem mình đang ở đâu?
Tôi tin rằng chín trên mười người được hỏi sẽ có cùng một câu trả lời: đó là cái nhà tù. Nơi mà người ta tách biệt mọi người ra riêng rẽ; nơi mà hoạt động suốt ngày, suốt đêm, suốt năm; nơi mà người ta nhét thật nhiều người vào ở theo nguyên tắc tối ưu hóa tối đa về diện tích sử dụng và sẵn sàng y sinh mọi yếu tố khác; nơi mà người ta chỉ quan tâm đến công việc có được hoàn thành hay không, chứ không cần chú ý đến chất lượng và thời gian bỏ ra; và là nơi mà với tất cả sự hy sinh và chịu đựng như vậy, những người bỏ ra gần hết thời gian của họ ở đó sẽ chỉ được tưởng thưởng rất ít; và việc tưởng thưởng sẽ phải đợi cho đến khi xong nhiệm vụ, hoặc đến một ngày cố định nào đó trong năm (gọi là ngày ân xá, hay còn gọi là đợt performance appraisal) - (hãy nhớ đến cách mà ba mẹ tưởng thưởng cho bạn: trước, trong khi, và sau khi làm xong việc đều được cả, và thưởng một cách vô điều kiện, nếu bạn đậu đại học vào tháng 8 thì ba mẹ không bao giờ phải đợi đến tháng 12 mới thưởng cho bạn, thậm chí ngay từ tháng 5, tháng 6 cũng có thể khích lệ cho bạn rồi; bây giờ hãy so sanh với cách mà nhà tù trên thưởng cho bạn Image Bạn thhích cái nào hơn? Image
Nhưng ngoài chín người đó vẫn còn một người có câu trả lời hoàn tòan khác: nơi đây là một công ty phần mềm. Người đó không ai khác là một lập trình viên. Image

3) Nghề lập trình chẳng giúp gì cho gia đình được
Người Việt mình đi làm ngoài chuyện kiếm tiền là mục tiêu đầu tiên, còn sau đó thì muốn có thể "giúp đỡ" cho gia đình, họ hàng vào những dịp quan trọng. Ví dụ: chồng của con của em ruột của bà ngoại của tôi làm một chức lớn trong ngành hàng hải ở ngoài Hà Nội, nên gia đình tôi có "vấn đề" gì về chuyển hàng hóa đi nơi khác là OK liền Image; hoặc nếu như chị họ của chị dâu của anh họ xa của bạn làm ở phòng tín dụng ngân hàng, bạn sẽ dễ dàng vay tiền để mua nhà hơn; hoặc là bạn học cũ hồi cấp II của mẹ tôi có một người bạn thân có người em gái ruột làm ở bộ phận Răng - Hàm - Mặt bệnh viện Chợ Rẫy, nên khi đứa cháu trai của anh rể của tôi cần đi nhổ một cái răng sâu, chắc chắn nó sẽ được ưu tiên vào trước mà không phải đợi lâu; ngoài ra, cháu bé này khi xin vào lớp 1 cũng rất dễ dàng vì một người họ hàng xa ở ngoài Bắc của tôi là bạn thời chiến đấu với vợ của ông hiệu trường của trường cấp I trọng điểm trong khu vực. Image
Vậy, tôi có thêm một câu hỏi dành cho bạn:
Tính từ lúc đi làm lập trình viên đến giờ, hãy kể ra một lần nào đó mà gia đình hay họ hàng của bạn đã "nhờ vả" bạn được việc gì đó?
Tôi tin rằng phần lớn các lập trình viên đều không trả lời được câu hỏi này.

Vậy một câu hỏi dễ hơn:
Hãy nhìn xung quanh trong công ty phần mềm mà bạn đang làm, kể cả những người có chức vụ và thâm niên cao nhất, bạn có thấy họ "giúp đỡ" được cho gia đình việc gì chưa?
Hầu hết các lập trình viên cũng không thể trả lời được câu hỏi này.

Bởi vì khi bạn dành gần hết thời gian trong ngày của mình ngồi trước máy vi tính để viết chương trình, bạn sẽ chẳng có được một "lợi thế" nào khác trong cuộc sống, ngay trước mắt và về sau này. Thậm chí một người bạn của tôi đi làm marketing cho tập đoàn hóa mỹ phẩm, thoạt nhìn cũng chẳng có "ưu thế" gì đặc biệt, nhưng thật ra hằng tháng cũng được công ty cho nào là dầu gội đầu, sửa tắm, kem đánh răng, sản phẩm riêng dành cho chi em phụ nữ Image,... hoàn toàn miễn phí. Ông bác làm bảo vệ kiêm soát vé ở sân vận động thì thỉnh thoảng đem được nhiều vé mời về cho gia đình. Người bạn khác làm kiến trúc sư thì có thể vẽ nhà dùm tôi với giá hữu nghị mà chất lượng thật bảo đảm. Còn bạn, bạn có thể đem được cái gì về? Đem cái chương trình mà ngay cả bạn dù viết ra nó cũng không hình dung người ta sẽ sử dụng ra sao? Hay là giúp đỡ họ hàng mình khi họ cần fix một vài cái bug trong một cái phần mềm nào đó. Image Thậm chí, một số bạn của tôi, đi du học lên cao để chuyên tâm làm nghiên cứu, thoạt nhìn thì có vẻ "vô tích sự" đối với gia đình, nhưng ngẫm lại thì cũng đem về nhà được cái danh là "ông tiến sĩ", "ông thạc sĩ". Còn nếu bạn đi làm lập trình viên, dù có được ra nước ngoài đi công tác, thì bà hàng xóm bên cạnh nhà cũng chỉ biết rằng: "thằng đó nó đi xuất khẩu lao động". Image

4) Làm phần mềm thì sẽ ít cơ hội được giao tiếp với bên ngoài

Bởi vì bạn phải dành gần hết thời gian trong cuộc đời của mình trong một không gian chật hẹp, với phía trước là làm màn hình vi tính, hai bên trái và phải là hai vách ngăn, còn ngay phía sau lại là một lập trình viên khác cũng đang ngồi trong thế tù túng giống bạn. Đấy, thế giới của bạn hạn hẹp như thế. Bạn rời mắt khỏi màn hình, nhìn ra xa xăm, và chẳng phải đợi lâu khi mắt của bạn bị dội ngay lại bởi bức tường trước mặt. Lần cuối cùng mà bạn thấy ánh sáng mặt trời khi đang làm việc là khi nào? Phần lớn những người không bao giờ hình dung nổi mình có thể sống trong một căn nhà không bao giờ có ánh sáng tự nhiên, thế mà họ không nhận ra rằng mình dành hết thời gian ban ngày ở một môi trường khủng khiếp như vậy. Image
Đáng buồn thay, ở trong một mội trường như vậy còn khiến cho bạn ít có cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Bạn sẽ ít khi gặp được những người mà bạn yêu thương, ít có điều kiện làm quen được với những người có thể giúp thay đổi cuộc đời hay sự nghiệp của bạn một cách tích cực. Khi bộ óc của bạn lúc nào cũng chỉ hoạt động trong 2 trạng thái: suy nghĩ logic (lúc bạn làm việc và đi học thêm vào buổi tối) và ngủ, chắc chắn bạn sẽ bị thui chụt đi rất nhiều khả năng cảm nhận cảm xúc của người đang nói chuyện với mình, hay khả năng biểu lộ suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và đầy xúc cảm.

Ồ không, bạn không hề cô đơn trong thế giới riêng của mình, vì bây giờ khoa học kỹ thuật đã phát triển rất cao. Có 2 phát minh vĩ đại có thể giúp cho bạn tiếp xúc với thế giới bên ngoài dù bạn ở bất kỳ đâu, bất kỳ khi nào: điện thoại di động và online messenger (ở VN thì có thể gọi luôn là Yahoo! Messenger, hay IM, vì nó quá phổ biến). Nhưng thật ra thì chúng chỉ làm cho thế giới của người lập trình viên tồi tệ thêm thôi. Hãy nghĩ về người mà bạn yêu thương nhất. Có thể bạn đã quá quen thuộc với khả năng gọi đến người đó, hay là nghe được giọng nói của người đó bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Hãy nghĩ lại thử xem. Thế ngoài giọng nói của người đó, bạn có thể nghe được tâm trạng, đọc được cảm xúc trên khuôn mặt người đó, nghe không chỉ bằng tai mà còn bằng trái tim của mình không? Hãy nghĩ lại thử xem. Có bao giời bạn thấy buồn cười không khi bạn trao đổi với người đó hằng ngày, mà người đó cũng không ở xa bạn, nhưng đến một hôm bạn chợt nhận ra người đó đã ốm đi rất nhiều, có vẻ mệt mỏi hơn rất nhiều, khi bạn có được thời gian hiếm hoi gặp mặt. Hãy thử nghĩ lại xem. Bạn có thể gọi đến người đó bất kỳ khi nào bạn muốn, nhưng liệu điện thoại di động có giúp cho bạn biết đúng lúc nào đó mà người đó cần bạn đến nhất không. Không thể rồi. Chỉ có ánh mắt, cử chỉ, khuôn mặt, hơi thở của người đó mới giúp bạn nghe ra được điều đó. Những tín hiệu này thì còn rất lâu khoa học kỹ thuật mới có thể giúp bạn được.

Hay như tôi đây, trước khi biết đến YM, tôi có thể viết một hơi mười mấy trang giấy, biểu lộ cảm xúc của mình qua từng từ ngữ, chấm câu, ngắt đoạn. Còn bây giờ tôi dùng phần lớn thời gian để suy nghĩ xem chèn cái emotion nào (Image, Image, Image, Image, Image) để thay cho sự bất lực trong cách thể hiện cảm xúc của mình.

Tóm lại, bất kỳ ai cũng cần một cuộc sống cân bằng, vừa có thế giới riêng tư vừa có thể giới bên ngoài. Công việc lập trình viên có thể khiến cho cuộc sống của bạn mất cân bằng. Bạn có thể giải quyết bằng cách chữa trị đúng vào nguyên nhân của vấn đề (sự mất cân bằng), hoặc bạn có thể chọn cách chữa trị vào các triệu chứng (ít giao tiếp, tách biệt với thế giới bên ngoài). Phần lớn lập trình viên đều chọn cách thứ hai, và họ dành thật nhiều thời gian cho điện thoại di động và YM. Bất kỳ ai cũng hiểu điều đơn giản này: không thể tin vào một bác sĩ chỉ biết chữa bệnh bằng cách tìm mọi cách dứt cho được triệu chứng, cái mà bệnh nhân cần là chuẩn đoán tìm ra nguyên nhân và chữa được nguyên nhân của căn bệnh.

Điện thoại di động và YM chỉ giúp lập trình viên chữa trị các triệu chứng. Nó là những phương tiện thông tin tốt, đặc biệt tốt với những ai có cuộc sống cân bằng. Nhưng nó là một thảm họa đối với những ai có cuộc sống không cân bằng. Hầu hết mọi lập trình viên đều có cuộc sống không cân bằng.

5) Làm lập trình viên không "cao cấp" như mọi người nghĩ
Mọi người thương quan niệm ngành CNTT là ngành khoa học trình độ cao, hay là kỹ thuật cao (high-tech). Bởi vậy ai cũng cho rằng làm phần mềm là ngành kỹ thuật cao. Ở đâu sắp mở khu công nghệ cao, ở đấy người ta sẽ tìm cách chào đón các công ty phần mềm vào đầu tiên.

Thực sự không phải như vậy. Làm phần mềm không phải là kỹ thuật cao, ngược lại là khác, nó chính là ngành kỹ thuật thấp (low-tech). Công việc mà tôi đang làm là gì? Đó là chuyển những yêu cầu chưa rõ ràng của khách hàng thành những mã lệnh của máy vi tính. Chấm hết. Chẳng có gì là high-tech cả. Nếu nói thông dịch viên là một ngành kỹ thuật cao thì thật là buồn cười, còn tôi thấy nói rằng làm phần mềm là một ngành kỹ thuật đỉnh cao thì còn buồn cuời hơn.

CNTT là một ngành high-tech, và một khoa học cao cấp. Chính xác.
Nhưng làm phần mềm không phải là CNTT, và càng không phải là high-tech.

Những người nghiên cứu chuyên sâu về các lý thuyết lập trình, về các khoa học cơ bản cho ngành phần mềm là high-tech. Các lĩnh vực về compiler, database, AI (trí tuệ nhân tạo), robot, kể cả về cấu trúc dữ liệu và thuật toán,... đều có thể xem là high-tech. (À, mà hiện nay ở Việt Nam người ta đổ xô học lên cao để đi theo những cái high-tech này, nhưng có thật họ có làm những việc high-tech ở trong đó không thì tôi sẽ có dịp trình bày sau Image).

Còn làm phần mềm lại ở một cấp thấp hơn rất nhiều. Tất cả mọi việc tôi cần làm để chuyển yêu cầu thành các mã lệnh là sử dụng các cấu trúc dữ liệu, các thuật toán đã sẵn có. Chẳng có gì là high-tech cả. Làm phần mềm mà một kỹ nghệ (engineering) chứ không phải là khoa học (science) hay là nghiên cứu (research) gì cả.

Bây giờ trở lại với công việc thực tế của lập trình viên. Các sinh viên ngành CNTT đều mơ mộng về một công việc rất high-tech, trong đó mình có thể tìm ra những thuật toán mạnh mẽ, những lý thuyết mới mẻ, những mô hình độc đáo, sáng tạo. Những chỉ sau 1,2 năm làm việc thì đều vỡ mộng vì thấy rằng công việc thực tế lại quá low-tech, quá "cơ bắp".

Sử dụng lý thuyết sẵn có để làm ra phần mềm chính là kỹ nghệ phần mềm, cái này thì chằng có gì là high-tech theo như cách hiểu của mọi người cả.

Còn nếu muốn tìm ra những lý thuyết mới thì đó là một lĩnh vực hoàn toàn khác. Có thể rất high-tech, nhưng ở VN có lẽ có rất ít công ty tạo điều kiện để làm việc này. Còn ở nước ngoài có thể vào những bộ phần nghiên cứu phát triển ở các công ty lớn mà làm. Mà công việc đó thì cũng không còn được gọi là software engineering nữa.

Vậy thì bị kịch của lập trình viên là gì? Đó là phải làm một công việc rất low-tech trong khi đầu óc lại luôn mơ về một công việc high-tech. Hậu quả: công việc cực khổ, cơ bắp, nhàm chán, và chẳng có gì mới mẻ.

Có thể hiễu nỗi khổ này của lập trình viên bằng cách hình dung một anh chàng lúc nào cũng mơ mộng trở thành một nhà toán học lỗi lạc, trong khi công việc hằng ngày là phải tính toán sổ sách cho một cửa hiệu tạp hóa. Image
ooOoo

Nãy giờ tôi nhìn vào nghề lập trình viên bằng suy nghĩ phiến diện, tiêu cực. Bây giờ thử bỏ chiếc mũ màu đen trên đầu, bỏ cả cặp mắt kính đen Image ra, đội chiếc mũ màu vàng vào, ngước lên bầu trời trên cao, nhìn thấy ánh sáng mặt trời vàng rực. Vậy thử tìm cách nhìn nghề lập trình viên bằng con mắt lạc quan xem thế nào.

Nhưng trước hết thì phải đi uống nước ép trái cây đã.

Tường thuật từ một buổi ăn tối

Lại có một dịp khác tôi có dịp đi ăn tối với các người bạn của một người bạn của tôi. Thành phần thì đủ cả: dược sĩ, nhân viên bán hàng, marketing, giáo viên, người không có việc làm và người chưa có việc làm.

- Biết vậy hồi trước tao học ngành CNTT thì bây giờ sướng rồi.
Tôi giật mình và tiếp tục chăm chú lắng nghe.
- Ừ! - Một người khác nói. - Làm cái đó lương cao mà không phải lo lắng, chạy vạy nhiều.
- Làm ngành của tao nhìn bên ngoài thì đã thật, nhưng nhiều cái mình không thích nhưng cứ phải ráng mà chịu đựng, nhìn bọn làm phần mềm thảnh thơi mà thấy thèm.

À há! Khi mình thay đổi cách nhìn vào cùng một việc, mình sẽ thấy được nhiều điều quan trọng hơn. Vậy thì thử đội mũ vàng vào và nhìn mọi việc một cách tích cực và yêu đời xem.

1) Làm phần mềm thật là vui
Không có nhiều công việc trên đời này tự bản thân nó đem lại niềm vui như khi làm phần mềm.

Bằng chứng thì rất dễ tìm thấy. Hãy đến một công ty phần mềm vào buổi tối, vào ngày cuối tuần, thậm chí là ngày lễ, bạn sẽ thấy có một vài nhân viên vẫn đang ở công ty mày mò tìm hiểu, viết thêm một số phần mềm chẳng liên quan đến công việc, cũng chẳng để kiếm tiền. Họ mày mò chỉ đơn giản vì họ thích, vì nó hay, vì nó vui. Ngoài ra, những công nghệ mới liên quan đến phần mềm, và ngay cả bản thân chiếc máy vi tính, đều có thể đem lại niềm vui và sự thích thú cho người sử dụng. Tôi luôn thấy nhiều nhân viên ở lại công ty để duyệt web, chơi game bằng máy vi tính. Ngoài ra còn có vô số điều lý thú khác để làm với máy vi tính.

Ngược lại, tôi chưa bao giờ thấy một nhân viên kế toán hay tài chính ở lại công ty để "chơi" với mấy cái sổ sách cả. Image Tôi cũng chưa thấy ở nhà máy nào có công nhân tình nguyệnở lại để "quậy" với mấy cái máy mọc cả. Hay những người làm sales, họ sẽ làm gì sau khi hoàn thành công việc? Chẳng có gì trong công việc để "giải trí" cho họ cả. Có lẽ bia, rượu, thuốc lá, đồ nhắm thì vui hơn chăng? Image
Dĩ nhiên cũng có người ở lại để mày mò tìm hiểu thêm về công việc. Nhưng mục đích chủ yếu là để nâng cao kiến thức chuyên môn và thăng tiến. Đây là một phạm trù khác. Cái mà tôi muốn nói đến là niềm vui, là động lực tự nhiên, vô tư.

Tôi còn nhớ khi mình tham gia đội dự tuyển bóng đá ỏ trường hồi cấp II, sau giờ tập luyện mệt nhọc, tất cả chúng tôi đều ở lại để chia làm hai phe đá banh tiếp. Chẳng phải để rèn luyện gì cả, chỉ bởi vì đá banh thì vui, chơi với bạn bè thì rất vui.

Tôi còn quen một anh bạn làm nhân viên trong bệnh viện, chưa hề đi học chính thức về tin học, nhưng khi rảnh rỗi vẫn tự đọc sách để việt máy chương trình bằng VB để phục vụ cho công việc của mình và đồng nghiệp. Hay một ông bác tự mày mò học viết chương trình đơn giản, học thiết kế đồ họa để tự làm web cho mình. Thật là vui và thật là say mê. Họ cũng rất vui nếu tôi tặng họ những cuốn sách hay hay gửi cho họ những chương trình mẫu hữu ích.

Ngược lại, tôi chưa có dịp tặng những cuốn sách kiểu như "Nhập môn kế toán", "Nghệ thuật bán hàng" cho ai đó mà tôi quen, để họ có thêm thú vui tiêu khiển. Image
Một công việc mà bản thân nó có thể đem lại niêm vui, sự thích thú một cách tự nhiên, vô tư, thì đó chắc chắn là một công việc tốt về lâu dài.

2) Làm phần mềm hướng mình đến những mục tiêu tốt đẹp
Ở bất kỳ công ty phần mềm nào, nhân viên luôn được khuyến khích:
  • Nâng cao và cập nhật kiến thức chuyên môn.
  • Rèn luyện ngoại ngữ.
  • Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày,...
  • Chăm chỉ, có trách nhiệm,....
Nếu bạn thực hiện tốt những việc trên, bạn sẽ được đền đáp về nhiều mặt: thu nhập, chức vụ,... Nghĩa là bạn cần đặt những mục tiêu tốt đẹp, và thực hiện những kế hoạch tốt đẹp.

Những công việc khác thì thế nào? Ai cũng hiểu mục tiêu của ngành y là cao đẹp, nhưng để bảo đảm cuộc sống tốt đẹp thì phần lớn bác sĩ phải thực hiện những kế hoạch chẳng tốt đẹp tí nào. Image Bây giờ thì thầy cô giáo cũng phải chạy xô, ép buộc học sinh rất nhiều. Image Thậm chí cũng có những công việc mà cả mục tiêu và kế hoạch đều không cao đẹp tí nào cả. Chẳng hạn mục tiêu cuối cùng là phải rút ruột được khách hàng, chén ép người khác,.... ImageImageImage
Nói dễ hiểu hơn, môi trường làm phần mềm bản thân nó là nơi tạo điều kiện cho mọi người nỗ lực vì những mục tiêu cao đẹp, để mọi bên đều có lợi (Win/Win). Còn nhiều công việc khác, nếu muốn tốt cho mình thì phải bon chen, thủ đoạn, nói chung lợi cho mình thì hại cho người khác và ngược lại (Win/Lose hoặc Lose/Win).

3) Làm phần mềm có thể giúp đem lại thu nhập cao
Lương bổng của kỹ sư phần mềm thì không thể giúp mình làm giàu được. Tính ra lại không bằng những ngành khác. Nhưng thử nghĩ lại xem, có ai làm giàu chỉ bằng đồng lương của mình không? Image

Trước tiên, hãy xem lại mục tiêu của bạn là gì?
  1. Kiếm một công việc có lương cao nhất?
  2. Có được tài chính để mình đạt được những mục tiêu khác trong cuộc sống?
Nếu mục tiêu của bạn là 1, thì làm phần mềm không phải là công việc phù hợp. Mà thật ra cũng khó có một công việc phù hợp với mục tiêu này, vì ngay khi bạn kiếm được một công việc có mức lương cao hơn, bạn sẽ lại thấy (hay nghe đồn thấy) có một công việc có lương cao hơn nữa.

Còn để đạt được mục tiêu thứ 2, bạn cần làm tốt 3 điều:
  1. Biết cách kiếm tiền.
  2. Biết cách tiêu tiền.
  3. Biết cách dùng số tiền còn dư lại để sinh ra nhiều tiền hơn.
Nghĩa là, làm việc và làm giàu là hai việc hoàn toàn khác nhau. Kẻ nào cố gắng nhập chung lại để giải quyết cùng một lúc cuối cùng chỉ thêm thất vọng mà thôi.

Điều tuyệt vời là thế này: làm phần mềm là công việc rất tốt để bạn hoàn thành tốt điều thứ nhất trong 3 việc trên. Tuyệt vời hơn nữa là bạn có thể kiếm tiền một cách lương thiện. Image
Nếu muốn có nhiều tiền hơn, cái mà bạn cần không phải là một công việc mới, mà là học và làm thật tốt hai điều còn lại. Dĩ nhiên, trên đời cũng có thể có công việc có mức lương quá tốt đến nỗi bạn không cần quan tâm đến hai điều còn lại. Nhưng nó sẽ rất hiếm, và dù sao thì thực hiện tốt cả 3 điều vẫn dễ dàng và căn cơ hơn là chỉ cần làm đều thứ nhất.

Khi nào có thời gian, tôi sẽ nói nhiều hơn về vấn đề "cơm áo gạo tiền này". Image

4) Làm phần mềm tạo điều kiện có được cuộc sống cân bằng


Muốn sống hạnh phúc thì chúng ta phải khỏe mạnh về thể chất lẫn đầu óc. Mà đối với mỗi thứ, cách tốt nhất để nó khỏe mạnh là phải vận động.

Làm phần mềm là cách tốt nhất để vật động đầu óc. Nói chung các công việc liên quan đến dịch vụ, làm việc văn phòng, dạy học, nghiên cứu, ít nhiều cũng giúp vận động đầu óc. Sau khi kết thúc công việc, bạn có thể sử dụng thời gian rảnh để vận động tay chân, chơi thể thao, làm những việc khác để bồi bổ cơ thể. Thật là dễ dàng (dĩ nhiên nếu bạn chịu cố gắng Image).

Những người làm công việc tay chân, cơ bắp thì không được thuận lợi như vậy. Tôi từng có thời gian làm rồi nên biết rõ. Sau một ngày làm việc đầu óc mệt nhoài, tôi có thể dễ dàng vận động gân cốt cho cân bằng. Nhưng sau một ngày làm việc tay chân rã rời, thật không dễ tí nào để dành thêm thời gian để vận động đầu óc. Đọc sách, chơi ô chữ, luyện vài bài toán Image Không đời nào làm được. Khả thi nhất là nằm dài xuống và coi một bộ phim lê thê, ướt át của Hàn Quốc. Cái đó thì thật ra chẳng giúp vận động đầu óc được một tí gì hết.

Một số công việc khác cũng độc hại không kém. Làm sếp chẳng hạn, hay đi tiếp khách để bán hàng cũng vậy. Bia rượu, thuốc lá, và có khi thêm mấy cái khoản nếu-không-nói-ra-thì-ai-cũng-hiểu, Image thật là một tai họa cho thể chất lẫn đầu óc. Image Uống xong một chai bia phải mất gần 1 giờ đồng hồ chạy bộ để khắc phục sự cố; nếu uống hết một két bia chắc phải mất hết một ngày không ăn uống gì để chạy bộ. Image

5) Và thử suy nghĩ tích cực về những suy nghĩ tiêu cực trước đó


Nếu mình làm phần mềm thì gia đình không "nhờ vả" gì được. Nhưng nếu nghĩ kỹ lại, thì thật là tốt. Ai trong chúng ta đều có gia đình, họ hàng, bạn bè, người quen để có thể "nhờ vả" những dịp như vậy. Thế thì khi nào mình cần, hay gia đình mình cần, thì cứ việc nhờ những người đó giúp đỡ. Image

Tôi muốn làm công việc mà mình yêu thích, làm người thực sự có ích; còn mấy việc "linh tinh và rắc rối" đó, chắc chắn có rất nhiều người có thể giúp đỡ tôi. Điều ngược lại thì tôi không muốn làm tí nào. Còn bạn thì sao?


Còn muốn tiếp xúc với bên ngoài nhiều hơn? Công việc lập trình đúng là không cho phép bạn tiếp xúc với nhiều người bên ngoài, nhưng đó là trong công việc. Lập trình không hề ngăn cản bạn sử dụng thời gian còn lại để làm những việc đó.

Đối với tôi, điều tuyệt vời nhất của công việc là nó không cho phép tôi gặp quá nhều người. Image Có nghĩa là nó sẽ giúp tôi không phải gặp những người mà tôi không thích, những người mà tôi và họ không đem lại sự thay đổi tốt đẹp cho nhau. Có nghĩa là nó giúp tôi quý trọng thời gian của mình, thời gian mà lẽ ra tôi phải dành cho những người tôi yêu thương nhất, những người yêu thương tôi nhất, những người có ý nghĩa đối với tôi nhất trong gia đình, công việc, sở thích,... Khi nhìn ra xung quanh, tôi thấy mình không thể làm một số công việc đơn giản bởi vì để làm tốt những việc đó, tôi phải hy sinh những điều có ý nghĩa nhất đối với tôi, để có được những điều mà thật ra chẳng có ý nghĩa gì về lâu dài cả, tôi phải làm bởi vì người ta yêu cầu tôi làm, hay là vì muốn được bằng như những người khác. Image

Vậy làm phần mềm thì lý thú hay là quá "cơ bắp"? Cũng nói về phần mềm, có người làm những việc rất high-tech, nhưng có người lại làm việc rất low-tech.

Thế nào là high-tech? Bạn có thể đọc cuốn sách "Nghệ thuật lập trình máy tính"
Thế nào là low-tech? Bạn thử đọc qua cuốn sách "Code Complete" Tôi đã đọc gần hết cuốn Code Complete, và đã từng cố gắng đọc cuốn "Nghệ thuật lập trình máy tính", nhưng chỉ được vài chương của tập I là bỏ cuộc. Từ đó tôi hiểu mình thích hợp với phần low-tech khi làm phần mềm.

Điều hấp dẫn khi làm mấy cái low-tech này là gì? Image Đó là tư duy để hiểu đúng vấn đề cần giải quyết, phân tích những giải pháp có thể rồi chọn là giải pháp tốt nhất, dùng những kiến thức và công nghệ hiện có (những cái hiện có thôi, còn muốn tìm ra cái mới thì không thuộc về phạm trù ở đây nữa) để thiết kế giải pháp đó, hiện thực, rồi kiểm tra. Tất cả những việc trên luôn đặt dưới áp lực thời gian, áp lực về chất lượng.

Dĩ nhiên, nếu công việc lập trình là đáng chán thì nguyên nhân không phải bởi vì bản chất công việc là đáng chán; mà nguyên nhân là có sự khác biệt giữa nguyện vọng của bạn và thực tế bạn đang làm. Trong trường hợp đó, cái mà bạn cần không phải là một chức vụ mới (tôi không bao giờ muốn làm sếp để sai những người cấp dưới làm những việc mà bản thân tôi cũng thấy "è lưỡi"), không phải là một công ty mới, mà là một trong 3 cách:
  1. Một công việc hoàn toàn mới, để thay đổi cái hiện tại.
  2. Một suy nghĩ hoàn toàn mới, để thay đổi cái nguyện vọng.
  3. Cả 1 và 2.
Tóm lại, mệnh đề "Làm phần mềm chẳng có gì cao sang và thật chán" là sai. Image
Lời kết
Lâu lắm rồi mới tập viết lại, thật là đã. Image Ở đây tôi chỉ mới đội mũ đen và mũ vàng để nhìn vào công việc mà mình đang làm. Khi nào rảnh chắc phải thử đội mũ trắng (dữ kiện, khách quan), hay các mũ màu khác để xem sao. Hay là có bạn nào giúp tôi làm việc này với.