Thứ năm, ngày 10 tháng năm năm 2012

6 loại hình khởi nghiệp bạn cần biết

Bài này đọc thấy hay, pốt lại để có link thôi - http://westart.vn/2012/05/6-loai-hinh-khoi-nghiep/

--------------------------------------------------------------------------

Không hiểu biết và nắm vững các khái niệm về “doanh nhân” và “khởi nghiệp” (startup) là một mối nguy có thể sẽ kéo thụt lùi nền kinh tế của cả một quốc gia.
Một điều đáng buồn đó là dường như nhà nước rất ít khuyến khích và đầu tư cho startup, nếu có thì cũng không mấy hiệu quả do được chú tâm không đúng cách, nguyên nhân đơn giản bởi những nhà điều hành không nắm được các khái niệm cơ bản và trả lời được các câu hỏi sau:
Startup là gì? Nhà kinh doanh là ai? Điểm khác biệt giữa các hệ sinh thái kinh doanh? Vai trò của quỹ công và quỹ tư?


6 loại hình startup – Hãy chọn lấy 1

6 đường lối tổ chức khởi nghiệp riêng biệt dành cho các doanh nhân: kinh doanh cá thể (lifestyle business), kinh doanh nhỏ (small business), startup có khả năng mở rộng (scalable startup), startup có khả năng chuyển nhượng (buyable startup), startup trong công ty lớn (large company) và doanh nhân xã hội (social entrepreneur). Mỗi cá nhân người đứng ra tổ chức doanh nghiệp của mình đều được gọi là các “doanh nhân”, tuy nhiên giữa mỗi nhóm ngành và hệ sinh thái hỗ trợ nó đều có các đặc điểm riêng cùng những sự khác biệt then chốt cần được nắm vững.
Đối với nhà hoạch định chính sách, ưu tiên hàng đầu chính là quan sát và chọn lấy cho mình một lối đi phù hợp nhất.

1. Startup kinh doanh cá thể: Sống là để hưởng thụ
Bên bờ các bãi biển xinh đẹp tại California, ta có thể thấy có nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở nơi đây, ví dụ như những người chơi lướt ván hoặc thợ lặn đồng thời sở hữu các quầy cho thuê dụng cụ thể thao hoặc mở lớp hướng dẫn lặn biển v…v… nhằm kiếm thêm chi phí chi trả cho các môn thể thao ưa thích của bản thân họ. Những nhà kinh doanh dạng này thuộc nhóm những người sống vì đam mê và thú vui cá nhân, làm không vì ai trừ chính họ, vừa làm vừa hưởng. Tại Silicon Valley, tương tự cũng có những lập trình viên hoặc thiết kế web tự do làm việc vì yêu công nghệ và làm việc chủ yếu để phục vụ sở thích hơn là làm giàu.

2. Startup kinh doanh nhỏ: Lao động để nuôi sống gia đình
Ngày nay, chiếm phần lớn trong số các kế hoạch kinh doanh và startup ở Mỹ vẫn là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Con số trung bình là từ 5 đến 7 triệu hộ, chiếm 99.7% các công ty và tập đoàn, 50% tổng số nhân công được thuê lao động (số liệu năm 2011).
Ví dụ cho hình thức kinh doanh nhỏ lẻ bao gồm: Cửa hàng đồ gia dụng, thức phẩm, tiệm làm tóc, đại lý du lịch, chuyên gia tư vấn, cửa hàng dịch vụ internet … Nhà sáng lập cũng đồng thời là nhân công.
Họ làm việc chăm chỉ không kém những nhà kinh doanh lại Silicon Valley, ưa chuộng thuê nhân công tại địa phương hoặc trong gia đình, và đa số là không có lãi hoặc lãi rất ít. Hình thức kinh doanh này được tạo dựng không phải để mở rộng hay thay đổi quy mô mà nhằm vào mục tiêu chính của chủ sở hữu đó là “nuôi sống bản thân và gia đình”. Nguồn vốn duy nhất của họ là khoản tiết kiệm tự thân, tiền gửi ngân hàng, các khoản vay kinh doanh nhỏ và số tiền mượn được tự người thân, họ hàng. Những nhà kinh doanh thuộc nhóm này thường không trở thành tỉ phú hay xuất hiện trên các tạp chí người giàu. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khác, chính họ lại là minh chứng sống động nhất khi nói đến “tinh thần kinh doanh” hơn bất kì ai, đến từ bất kì đâu trong 6 nhóm đã nêu.

3. Startup có khả năng tăng trưởng: Tham vọng ông lớn.
Đây là xu hướng chủ đạo mà các nhà kinh doanh và đầu tư liên doanh tại Silicon Valley hướng đến. Những ví dụ cụ thể nhất chính là Google, Skype, Facebook và Twitter. Từ giây phút đầu tiên, nhà sáng lập đã tin tưởng rằng mình sở hữu tầm nhìn có thể thay đổi thế giới. Khác với những hộ kinh doanh nhỏ đã đề cập ở trên, mục tiêu của họ ngoại trừ việc hưởng lợi nhuận còn có chú tâm vào tạo ra tính công bình bên trong tổ chức, tạo ra một công ty có giá trị liên thành, có chỗ đứng vững mạnh.
Những dự án startup dạng này rất cần đến những nhà đầu tư mạo hiểm hỗ trợ hòng tìm ra những mô hình kinh doanh mới mẻ. Họ chỉ làm việc với những người giỏi nhất. Một khi đã tìm ra một sản phẩm và một mô hình kinh doanh phù hợp, họ lại càng tập trung hơn vào hướng mở rộng và càng ra sức kêu gọi vốn đầu tư để thúc đẩy tiến độ lên mức nhanh nhất.
Những dự án startup hướng mở rộng thường tập trung quanh các “cluster” đầy đủ về vốn, nhân lực và “văn hóa” khởi nghiệp như Silicon Valley, Thượng Hải, New York hoặc Isarel … Tuy chiếm một phần rất nhỏ trong 6 hình thức startup, nhưng do lợi nhuận và hình ảnh mang lại, loại hình khởi nghiệp này thu hút mọi nguồn vốn mạo hiểm theo nguyên tắc: rủi ro tương đương với lợi nhuận.

4. Startup hướng chuyển nhượng: Từ túi này sang túi khác
Trong vòng 5 năm trở lại đây, ứng dụng web và di động đã vươn lên mạnh mẽ và việc chuyển nhượng các startup dạng này đã trở nên hết sức phổ biến, tiêu biểu là việc Facebook mua lại Instagram mới đây. Chi phí khởi nghiệp cho các dự án đồng dạng ít hơn nhiều so với dạng truyền thống, yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đầu tư bên ngoài; lợi thế bên cạnh đó là giảm bớt thời gian cần thiết để đưa được sản phẩm ra thị trường và có bệ đỡ sẵn. Mục tiêu chính không phải là tạo lập các tập đoàn tỷ đô, mà là nuôi lớn ý tưởng rồi bán lại cho các bên kinh doanh lớn hơn.

5. Startup trong công ty lớn: Đổi mới hoặc biến mất
Những công ty lớn sở hữu vòng đời hữu hạn. Trong hơn 1 thập kỉ qua, chúng lại càng thu hẹp hơn nữa. Đa phần chuyển hương phát triển sang hình thái duy trì và tung ra các sản phẩm phụ bên cạnh sản phẩm chính. Sự thay đổi khẩu vị của khách hàng, sự tiến bộ của công nghệ, luật pháp, các đối thủ cạnh tranh v..v.. là các tác nhân gây sức ép lên các công ty, đòi hỏi họ phải đưa ra các chính sách mới, tạo ra sản phẩm mới và tìm kiếm khách hàng mới tại các thị trường mới. Ví dụ tiêu biểu đó là Google và Sony. Những công ty, tập đoàn hiện tại thực hiện điều đó bằng cách mua lại các công ty nhỏ hơn đang trên đà phát triển, hoặc tận lực chuyển hướng kinh doanh vốn có của họ. Bất hạnh thay, kích cỡ đồ sộ của chính họ lại làm cho quá trình này trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

6. Startup hướng xã hội: Tạo nên sự khác biệt
Những doanh nhân trong lĩnh vực xã hội là những con người sở hữu lòng nhiệt tình và nguồn nhiệt huyết không hề thua kém bất kì ai trong số những nhà sáng lập nói chung. Thế những, khác với những dự án startup hướng mở rộng, mục tiêu của họ là biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, trội hẳn so với việc làm giàu. Những dự án kiểu này có thể thuộc dạng phi lợi nhuận hoặc chỉ thu về lợi nhuận nhược tiểu.

Tổng kết:  Một số điểm cơ bản cần rút ra và chú ý:
  • Mỗi hình thức trong số 6 loại hình startup trên lại có yêu cầu khác biệt lớn đối với hệ sinh thái kinh doanh, các phương pháp giáo dục đặc biệt, các ưu đãi kinh tế khác nhau (thuế má, giấy tờ …), nơi ươm mầm và các nhà tư bản mạo hiểm.
  • Một hệ sinh thái startup hệ mở rộng là phương thức tối thượng để thực thi tư bản chủ nghĩa. Đó không phải là việc thực thi “tính công bằng” hay ưu đãi. Thương trường là chiến trường, cuộc chơi đòi hỏi độ liều cao, ham muốn vật chất, tầm nhìn và không từ thủ đoạn. Kẻ chiến thắng chính là người hội đủ tất cả những yếu tố đó.
  • Xây dựng một cụm sinh thái startup hướng mở rộng đòi hỏi sự vắng mật của chính phủ trong  các vườn ươm ý tưởng kinh doanh, các quỹ đầu tư mạo hiểm và đòi hỏi quá trình chọn lựa hướng đi thật nghiêm ngặt
  • Các quốc gia bắt đầu thực hiện hình thức kinh doanh tài chính công nên sở hữu riêng cho mình một lối thoát, phòng trường hợp cấp bách đồng thời xây dựng một quỹ đầu tư mạo hiểm riêng. Nếu sau 5 đến 10 năm mà dự án vẫn đòi hỏi cung ứng vốn thì đồng nghĩa với việc nó đã thất bại.
Tới nay, Israel mới là quốc gia duy nhất trên thế giới tiến hành xây dựng thành công các cụm kinh doanh ăn nên làm ra. Mô hình mà nước này áp dụng với tên gọi “chương trình Yozma” đó là gây quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân kết hợp vốn chính phủ (mô phỏng lại mô hình quỹ SBIC của Mỹ), nhưng sau một thời gian nhất định nhà nước sẽ tự rút lui.

Thêm vào đó, nhà nước Israel ban đầu chỉ ứng quỹ cho 23 vườn ươm kinh doanh nhưng sau đó chuyển toàn bộ sang cho bên liên doanh sở hữu và quản lí. Tất cả những vườn ươm đó tới nay được điều hành bởi các chuyên gia kinh tế, trở thành tiền đề cho thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm.
Như vậy. trừ khi những nhà làm luật hiểu được đặc điểm cùng sự khác biệt giữa các loại hình startup và nhu cầu thiết yếu của hệ sinh thái kinh tế nhằm hỗ trợ phát triển của quốc gia; nếu không, khả năng để đất nước đó có cơ hội tiến bộ, phát triển, đổi mới, tạo nên công ăn việc làm cho người dân là vô cùng thấp.

Read more...

Thứ sáu, ngày 04 tháng năm năm 2012

Một cách nhìn về triển khai phần mềm ở Việt Nam

Lâu lâu không viết, không pốt gì, giờ đọc thấy bài này hay hay (dù cóc biết tác giả là ai vì từ cái nguồn mềnh cọp ra họ cũng chỉ có ghi được là theo Internet, hố hố), Vậy nên pốt lại chơi, sau tham khảo cũng được....

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Chúng ta đã được nghiên cứu rất cẩn thận về quy trình sản xuất phần mềm, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này tôi muốn bàn luận về một số kinh nghiệm trong công việc Triển khai Phần mềm tại Việt Nam theo một cách nhìn thực tế.


Để dễ dàng trình bày, tôi mạnh dạng cho rằng một sản phẩm phần mềm được đưa vào ứng dụng có thể so sánh với việc một tác phẩm âm nhạc được đưa ra phổ biến trong dân chúng. Thật vậy, nếu bỏ qua những đặc thù của từng loại thì có thể so sánh quy trình hình thành hai loại sản phẩm này như sơ đồ hình ở trên (http://www.erpsolution.com.vn/showthread.php?t=199)

Một tác phẩm âm nhạc đi đến với công chúng thường có 3 tầng sáng tác: Nhạc sĩ, ca sĩ và người nghe. Nhạc sĩ sáng tác là điều tất nhiên. Ca sĩ cũng sáng tác ra cách để biểu diễn và truyền đạt cảm hứng của nhạc phẩm ứng với từng sân khấu, từng đối tượng nghe. Người nghe mỗi người hiểu và thưởng thức nhạc phẩm theo cách riêng, không gian riêng, tâm trạng riêng của mình.

Có rất nhiều nhạc phẩm sau khi được sáng tác thì chính nhạc sĩ đó biểu diễn luôn ví dụ như các tác phẩm của các nhạc sĩ Thế Hiển, Đức Huy hay Quốc Bảo… nhưng hầu hết các nhạc phẩm được sáng tác bởi một nhạc sĩ và được biểu diễn bởi một số ca sĩ mà không phải là chính nhạc sĩ đã sáng tác ra nó, đôi khi nguyên nhân rất đơn giản là do người nhạc sĩ không có chất giọng tốt. Mức độ thành công của kiểu nói trên thật khó so sánh, nhưng phải chăng nó hình thành ngay trong chúng ta một số khái niệm đó là khả năng và sự phù hợp.

Hiện nay, việc triển khai phần mềm đã được nhìn nhận và đánh giá cao hơn bởi hai nguyên nhân chính, thứ nhất là nó đã mang lại một doanh số khá cao, thứ hai là những phần mềm của nước ngoài như Solomon, ERP, Aptra… thì Việt nam chỉ có triển khai chứ không sản xuất. Tuy nhiên, theo tôi còn một nguyên nhân khá quan trọng nhưng ít được nói đến là “ôm khách hàng”, nhiều doanh nghiệp ngầm xem việc đưa quân mình đi triển khai là con đường ngắn nhất để tạo uy tín và thương hiệu đối với khách hàng.

Cần phải nói thêm rằng càng ngày nhu cầu triển khai phần mềm tại Việt Nam càng được tăng cao, đã qua rồi cái thời các phần mềm theo kiểu “may đo” nhỏ lẻ mà thay vào đó là các yêu cầu tích hợp phần mềm, phần mềm dùng chung…đó là các phần mềm được triển khai toàn quốc, hay toàn tỉnh nên nhu cầu về cán bộ triển khai sẽ được chú trọng trong thời gian tới.

Như vậy, xét ở góc độ kinh doanh thì rõ ràng xứ mệnh của công việc triển khai phần mềm không hề nhỏ chút nào. Điều đáng nói ở đây là hầu hết các nơi đào tạo chuyên viên CNTT chỉ nhấn mạnh đào tạo học viên trong việc sản xuất phần mềm, còn việc triển khai phần mềm coi như là tất nhiên. Ai cũng biết rằng trong “Water fall” đã có “Deployment” nhưng những kỹ năng cần thiết của ca sĩ và nhạc sĩ thì không thể đánh đồng, bao hàm.

Bây giờ chúng ta thử đi vào ghi nhận lại những tồn đọng mà việc triển khai phần mềm đang gặp phải, chúng ta sẽ cố gắng bỏ qua những tồn đọng do nguyên nhân khách quan mà chỉ tập trung vào những nguyên nhân chủ quan.

Quản lý cấu hình

Điều này thường xuyên xảy ra đối với các cán bộ triển khai (CBTK) được lấy ra từ đội sản xuất. Cho dù có quy định thế nào đi nữa thì việc các CBTK ngồi sửa code tại khách hàng là điều khó tránh khỏi, vì theo suy nghĩ của họ thì chỉ cần sửa nhỏ chút xíu mà chương trình đáp ứng yêu cần của người dùng, sau này về cơ quan sửa lại. Tuy nhiên, khi về cơ quan thì vì rất nhiều nguyên nhân khuyến họ không còn nhớ việc đó nữa, nhiều người như vậy để rồi cuối cũng thì mỗi đơn vị khách hàng có một phiên bản khách nhau, đến một thời điểm thì việc quản lý cấu hình không còn khả thi. Điều này đã rất nhiều đơn vị gặp và hậu quả của nó là không thể thu thập đầy đủ các phản hồi của người dùng và cực kỳ khó khăn khi cài đặt phiên bản mới. Việc này có thể ví như anh chàng nhạc sĩ tự biểu diễn bài hát của mình, gặp hôm nào thấy đau cổ họng thì rút viết ra chỉnh lại vài nốt nhạc cho dễ hát.

Đóng gói

Thông thường thì đội sản xuất sẽ không mấy tập trung cho việc đóng gói sản phẩm, bởi khi họ trực tiếp đi triển khai thì việc cài đặt, cấu hình như thế nào sẽ không là vấn đề. Vấn đề sẽ cực kỳ gian nan với những CBTK mà không phải xuất thân từ đội sản xuất đó, họ phải làm quen hàng loạt thông số, dữ liệu, và đôi khi cả cấu trúc của chương trình. Đau khổ hơn là khi trực tiếp triển khai mới phát sinh lỗi mà lỗi này do một thông số nào đó mình chưa được đào tạo lại hoặc mình quên. Điều này giống như ca sĩ phải trình bày một nhạc phẩm sau khi nghe ai đó đã hát mà không được xem bản nhạc gốc, nên việc hát sai nhạc, sai lời là chuyện thường.

Tiếp nhận phản hồi

Khi khách hàng yêu cầu chỉnh sửa hoặc bỗ sung một số chức năng, nếu CBTK là người xuất thân từ đội sản xuất, thay vì anh ta ghi nhận hoặc giải thích thì anh ta lại đứng phân tích ngầm trong đầu: Việc này cần phải sửa database, sửa code, sửa report… nếu thấy sửa nhiều quá thì anh ta tìm mọi cách để áp đặt khách hàng làm theo ý mình, ngược lại, nếu thấy chỉ sửa nhỏ thì anh ta đồng ý. Rất nhiều khách hàng bực bội và cho rằng họ bị áp đặt và có một số trường hợp người dùng sẽ tẩy chay chương trình. Việc tiếp nhận phản hồi của khách hàng là một may mắn của sản phẩm phần mềm nếu so với tác phẩm âm nhạc, không có khán thính giả nào lại yêu cầu ca sĩ “về nói ông nhạc sĩ viết lời lại và chỉnh một số nốt nhạc thì tôi mới nghe”, mà ngược lại nếu nghe không hay thì người ta bỏ luôn. Chúng ta cần tận dụng tối đa may mắn này trong việc sản xuất phần mềm.

Hiểu nghiệp vụ

Hầu hết các doanh nghiệp chỉ chú tâm rằng nhân viên triển khai của mình đã nắm bắt được các tính năng của chương trình hay chưa, chứ không mấy quan tâm đến việc nhân viên của mình đã hiểu nghiệp vụ của người dùng hay chưa. Rắc rối này thường gặp nhất ở các nhân viên trẻ, trong quá trình đào tạo, họ thường chú tâm đến những gì phần mềm mình có mà rất ít khi quan tâm đến thực tế khách hàng làm việc thế nào, đã nhiều lần tôi gặp trường hợp khá buồn cười: sau khi hướng dẫn cho khách hàng đầy đủ các tính năng của chương trình Quản lý Công văn, khách hàng lấy ra một vài công văn yêu cầu CBTK áp dụng thử thì chịu, vì CBTK không biết được đâu là trích yếu, đâu là số ký hiệu gốc…của Công văn ấy. Đó là chưa nói có rất nhiều từ ngữ nghiệp vụ của khách hàng mà chúng ta hầu như chưa tìm hiểu bao giờ, ví dụ: “sao y” khác với “chứng thực” thế nào, “đăng bộ” là gì, “tống đạt” là gì… Tất nhiên, không môi trường đào tạo nào có thể giảng dạy đầy đủ, tuy nhiên việc chỉ tập trung nắm bắt các tính năng của chương trình mà quên đi nghiệp vụ đã để lại không ít hoài nghi trong suy nghĩ của khách hàng. Điều này cũng giống như ca sĩ chỉ cố công gào thét, còn gào thét để làm gì thì không xác định được.

Dẫn dắt vấn đề

Lần này thì giả sử họ hiểu nghiệp vụ rất rõ, nhưng tôi lại muốn nói đến khía cạnh CBTK dẫn dắt người dùng vào chương trình của mình như thế nào. Thường thì có 2 cách dẫn dắt: “1- các anh chị dùng tính năng X của chương trình để làm công việc A” hoặc “2- Khi có nhu cầu làm công việc A thì các anh chị mở tính năng X ra để áp dụng”, về ý nghĩa thì như nhau, nhưng hầu hết các CBTK thường dùng cách 1, trong khi cách 2 thường mang lại hiệu quả hơn, kiểu dẫn dắt ấy giúp người dùng đi từ những việc thông thường của họ và bước dần vào chương trình mới mẻ, cách 2 còn khẳng định với khách hàng rằng “tôi đã hiểu nghiệp vụ của các anh chị”. Các ca sĩ khi về những vùng quê muốn hát nhạc Disco thì trước tiên họ cũng hát vài bản nhạc tình cảm.

Giao tiếp

Có thể nói, khi đi triển khai, đối tượng làm việc của chúng ta là con người chứ không phải là máy tính như khi ta sản xuất chương trình. Chúng ta sẽ được tiếp súc với nhiều đối tượng, nhiều quan chức khác nhau, mỗi người trong họ lại có những độ thông cảm không giống nhau. Rắc rối sẽ bắt đầu xuất hiện khi chúng ta không đủ tự tin khi tiếp xúc với họ mà nguyên nhân phần lớn là do chúng ta chuẩn bị tâm lý không cẩn thận. Đặc biệt có nhiều vị khách hàng thường hỏi những vấn đề mỡ rộng đôi chút thì gần như CBTK bắt đầu lúng túng, đó cũng là thời điểm phát sinh tư tưởng “ngon”, không biết cũng không giám nói là “để em xem lại” hoặc “để em về báo cáo với lãnh đạo bên em”, thay vào đó CBTK lại mông lung nói không đâu ra đâu. Chúng ta thường đánh giá không cao khả năng về CNTT của khách hàng, tưởng rằng có thể “múa rìu qua mắt thợ điện” ai ngờ trước mặt mình là tay “thợ rừng chuyên nghiệp”. Xin phép khẳng định rằng trong khách hàng có không ít vị rất am tường về ứng dụng CNTT, vì thế chúng ta cần hết sức thận trọng, hoặc ít nhất chúng ta cần tôn trọng khách hàng vì họ luôn là người nắm nghiệp vụ hơn chúng ta nhiều.
Hình như trong suốt quá trình triển khai phần mềm, CBTK nào cũng ít nhất cãi nhau với khách hàng một vài lần, không phải cuộc cãi nhau nào cũng có hại nhưng chắc chắn rằng buổi làm việc đó sẽ không có kết quả. Các cuộc cãi nhau thường bắt đầu khi khách hàng chê phần mềm của chúng ta kém, máu “văn ta vợ người” trào lên, và lúc đó chúng ta cố hết lời để chứng minh phần mềm của mình ngon. Các ca sĩ thì họ thường chuẩn bị trước, không phải một bài hát họ rất tâm đắc nào cũng có thể làm hài lòng tất cả người nghe, có nhiều người mê cuồng bài hát đó nhưng cũng không ít người bỉu môi.

Kỹ năng giảng dạy

Điều này có lẽ phụ thuộc rất nhiều vào năng khiếu của mỗi người nhưng không phải là không thể tập luyện, bởi ngoài khả năng ăn nói lưu loát thì trong giảng dạy quan trọng nhất vẫn là nội dung muốn truyền đạt. Hầu hết CBTK đều không xác định trước đối tượng mình sẽ trình bày để chuẩn bị nội dung tương ứng, chúng ta cũng ít khi xác định mục đích và những tiêu chí cần thiết nhất để truyền đạt, nên dễ bị mông lung. Có khi chúng ta chỉ giảng dạy cho một nhóm người nhưng cũng nhiều khi chúng ta phải đứng giảng trước cả hội trường với Micro, máy chiếu. Có thể nói rằng rất ít người trong chúng ta đóng tròn vai thầy giáo này. Run sợ là biểu hiện đầu tiên, kéo theo đó là lắc chuột vô tội vạ trên màn hình, nói thì ít lắc chuột thì nhiều. Có khi dừng lại một hồi lâu không nói gì mà cứ gõ phím rồi lại xoá, gõ rồi lại xoá. Mồ hôi thì chảy dài trên má và đẫm cả áo, nhìn thấy thương. Cá biệt có trường hợp do run quá mà làm rơi Micro. Nhiều trường hợp không hề quan tâm đến việc chọn vị trí đứng giảng cho phù hợp vừa gây khó cho mình lại khó cho người thao dõi.

Rồi xưng hô, đứng giảng dạy nhiều bạn vẫn xưng là con cho ngôi thứ nhất, theo tôi thì cứ phải xưng tôi, chúng tôi hoặc tối thiểu cũng phải là em.

Theo tôi thì việc không chuẩn bị kỷ cho đội quân triển khai là nguyên nhân chính. Hậu quả của nó là cuối buổi dạy, nhìn xuống bên dưới không còn mấy người.

Sức khoẻ

CBTK phải có sức khoẻ dồi dào mới có thể đáp ứng yêu cầu công việc liên tục và cường độ cao. Trước hết, lịch sinh hoạt cá nhân hoàn toàn bị xáo trộn, qua rồi cái ngày ở nhà với mẹ, chăn ấm nệm êm, cơm no áo ấm. Lần này chúng ta phải thường xuyên di chuyển không kể ngày hay đêm, việc ngủ trên xe để sáng hôm sau đến nơi làm việc tiếp là bình thường. Nhiều bạn không quen đi xe nên bị say xe, uống thuốc vẫn say, mà đã say xe thì sự mệt mỏi là người bạn đồng hành bất đắc dĩ, chúng ta cũng không thể làm việc tốt mỗi khi có người bạn này bên mình. Không thể định trước mình sẽ ngủ bao nhiêu tiếng đồng hồ hay thức dậy lúc mấy giờ, cũng không thể định trước mình hoàn thành công việc vào giờ nào, xong việc có về được ngay hay phải trú lại đêm. Thường thì xong việc sẽ được mời nhậu, nếu chúng ta không biết nhậu thì đấy là một nỗi khốn khổ, tôi cũng là người không biết nhậu nên tôi thường từ chối với lý do việc còn nhiều, hoặc tôi sẽ đi cùng với một bạn biết nhậu. Nói chung cuộc sống của CBTK là: Ăn bất kỳ món gì, bất kỳ ở đâu, đâu cũng là nhà, đâu cũng là giường, chuyện giờ giấc xin quên đi và đòi hỏi chúng ta phải có một thể lực dồi dào. Đi triển khai cũng giống như ca sĩ chạy show, chỉ khác nhau là họ được nhiều tiền thù lao còn chúng ta được nhiều rượu bia, say xe và ăn quán ngủ trọ.

Dịch vụ cơ bản

Điều thiếu nhất của các CBTK xuất thân từ dân phần mềm là các dịch vụ cơ bản, nó là Windows, LDAP, DHCP, DNS, IIS, Mail Server, là ADSL, TCP/IP, kiến trúc mạng… Phần lớn chúng ta xem đó là những thứ đã có sẵn, đã hoàn chỉnh, công việc của chúng ta chỉ là Phần mềm. Cũng vì thế mà khi chạy đến khách hàng, thấy máy không kết nối mạng được thì chúng ta lại về, nếu chúng ta có kiến thức hạ tầng thì có thể chúng ta sẽ kiểm tra và kết nối mạng giúp các đơn vị, sau đó mình làm việc của mình, vừa hoàn thành công việc lại vừa được lòng khách hàng. Tất cả các kiến thức nói trên thật ra chỉ cần đào tạo trong một ngày là có thể áp dụng được nhưng hầu hết các doanh nghiệp không hề quan tâm đến nó, bản thân chúng ta cũng không tự nghiên cứu. Tệ hại hơn, nhiều bạn sau khi “mò mẫm” thì làm cho máy của khách hàng rớt mạng luôn, không biết chỉnh sửa thế nào nên đành bỏ về. Chúng ta nghĩ gì khi một ca sĩ đến nơi biểu diễn đầy ắp khán giả ham mộ, đầy đủ mọi thứ nhưng dàn nhạc không đánh được bài Rock mà ca sĩ định biểu diễn, thế là ca sĩ bỏ về trong sự ngơ ngác của khán giả. Rõ ràng nếu có sự chuẩn bị nghiêm túc thì ca sĩ luôn mang kèm theo mình đĩa nhạc đệm đã đánh sẵn.

Tán gẫu với IT

Thường thì đi ăn trưa hay đi nhậu, các IT tranh thủ hỏi chúng ta một số thông tin, khuất mắt, băn khoăn, nhất là các vấn đề về dịch vụ cơ bản như đã nói ở trên. Đôi khi chúng ta chỉ cần nói chuyện “chim trời cá nước” gì đó cũng được nhưng phải nói, phải giao tiếp thì mới vui, mới để lại ấn tượng. Không ít người chẳng biết nói gì nên cứ ngồi đợi người ta nói, mình nghe. Còn nếu IT cũng im re thì bữa ăn trở nên nặng nề vô cùng. Thật ra, thân tình với IT hay không là những lúc này, IT có quý mình hay không là những lúc này. Nếu chúng ta nói được những thông tin quý thoả đáng hoặc nói chuyện vui vẻ thì họ sẽ thấy chúng ta nhiệt tình, dễ mến. Nhiều ca sĩ hát nghe cũng được nhưng trả lời phỏng vấn của báo chí thì không nhận ra đâu là họ nữa.

Tư vấn

Đây là yếu điểm nhất của phần lớn các CBTK, trong các Hợp đồng Kinh tế về triển khai phần mềm thường để trách nhiệm của bên B: “Tư vấn và triển khai”, tuy nhiên gần như các doanh nghiệp chỉ chú tâm tư vấn ở tầm lãnh đạo, còn các CBTK hầu như quên mất nhiệm vụ này. Thật ra làm thế nào để có thể áp dụng phần mềm mình triển khai vào quy trình công việc hiện tại cuả khách hàng một cách phù hợp nhất mới là nhiệm vụ khó khăn của CBTK. Rất tiếc, các doanh nghiệp vừa thiếu người có khả năng tư vấn lại vừa thiếu quan tâm nên công việc triển khai phần mềm lắm khi có sự chênh vênh giữa yêu cầu người dùng và các tính năng của chương trình.

Cho dù còn nhiều khập khiển trong cách so sánh giữa sứ mệnh của Cán bộ triển khai phần mềm và sứ mệnh của Ca sĩ, tuy nhiên việc mang đến cho thính khán những âm hưởng ngọt ngào để rồi trong phút giây chạnh lòng con người ta lại nghĩ về âm hưởng đó, nghĩ về người ca sĩ đã truyền tải. Một ca khúc chỉ hay khi mà ca khúc ấy được biểu diễn bởi một ca sĩ có những tố chất phù hợp, một ca sĩ đầy tâm huyết và có sự chuẩn bị chu đáo.

Xem ra, những yêu cầu cần thiết của một CBTK không hề đơn giản, tuy nhiên cho dù không có được những yêu cầu trên thì những CBTK cũng đã hoàn thành “xuất sắc” công việc của mình. Thông điệp của bài viết cũng chỉ dừng lại ở góc độ tham khảo, nếu nhiều hơn cũng chỉ là một sự chuẩn bị tối thiểu về tư tưởng nếu chúng ta chọn công việc triển khai phần mềm. Riêng với tôi, là một cán bộ triển khai, tôi rất hạnh phúc, đơn giản vì nó phù hợp với sở thích. Khi triển khai phần mềm tôi được đi nhiều nơi, được sống cuộc sống mà có thể tạm gọi là “chu du thiên hạ”. Tôi thích được tiếp xúc với nhiều kiểu người khác nhau, thích được người khác đánh giá về mình và trong những chuyến đi, tôi không quên nhìn trời nhìn đất, nhìn núi nhìn sông, nhìn cảnh sống cơ cực của người dân trên khắp mảnh đất hình chữ S.

Read more...

Thứ hai, ngày 12 tháng mười hai năm 2011

Vốn điều lệ

Đọc một series trên TBKTSG về chủ đề này, thấy bài này hay nên pốt ở đây để sau còn đọc lại

LẠI NÓI VỀ VỐN ĐIỀU LỆ
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn - http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/67365/Lai-noi-ve-von-dieu-le.html

Trong bài Đừng tin “vốn điều lệ”!, tác giả Huy Nam sau khi đặt các câu hỏi về vốn ấy thì đã trả lời rằng là “… có thể nói đó chưa là gì, ít ra về mặt tài chính doanh nghiệp… có thể là dư âm của nếp quản lý tiền kiểm…”. Và ông đã giải thích bằng bài viết của mình. Ở đây tôi xin góp thêm vào cố gắng của tác giả.

Thoạt đầu (vì bây giờ đổi rồi), vốn điều lệ là danh từ của luật ta để chỉ số tiền lần đầu của một doanh nghiệp do các cổ đông tự khai rồi đăng ký. Sở dĩ gọi như vậy là để phân biệt nó với vốn pháp định là cái mà luật buộc một số loại công ty phải có khi được thành lập. Dù có tên là gì thì cả hai chỉ là một số tiền mà các cổ đông bỏ ra để lập doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó vốn có hai tính chất: pháp lý và thương mại.

Tính chất pháp lý của vốn

Công ty là một pháp nhân, tức là con người nhưng chỉ tồn tại trong con mắt của luật pháp. Xin gọi là “con ma”. Các cổ đông bỏ tiền ra để lập con ma; rồi cho nó hoạt động một mình (tách khỏi họ) và độc lập (không dính với ai về mặt trách nhiệm). Khi kinh doanh con ma sẽ gây thiệt hại cho những người khác (thể nhân và pháp nhân) và nó phải bồi thường; muốn làm được nó phải có tài sản. Đó là vốn. Do đó, về mặt pháp lý, người ta nói vốn là tiền mà công ty dùng để trả nợ. Đấy là trật tự xã hội, không thì sẽ loạn.

Vì mục đích đó, luật buộc (i) con ma phải công bố vốn và (ii) cổ đông không được làm giảm số vốn kia. Về sau này, khi con ma trả nợ thì người sẽ mất tiền thực sự là các cổ đông. Họ là “con nợ cuối cùng”. Con ma sẽ bị tòa án buộc trả nợ cho mọi chủ nợ, khi nó không có tiền mặt trả nợ đến hạn cho một người, và bị người ấy thưa ra tòa xin phá sản. Trách nhiệm của con ma thực sự là lúc này; còn lúc khác nó khất nợ được. Trách nhiệm của “con nợ cuối cùng” cũng là ở đây; đó là trách nhiệm phải “chi tiền” chứ không phải là “đi tù”. Khi phải trả nợ như vậy, có bao nhiêu tài sản con ma phải đem ra hết để trả. Thí dụ nó đã khai vốn điều lệ là 8 tỉ đồng, hiện có trong quỹ 16 tỉ, nhưng nợ 20 tỉ; vậy nó phải lấy 16 tỉ ra trả. Trả đến sạch túi như thế luật bảo là “chịu trách nhiệm vô hạn”. Các cổ đông đã bỏ vào nó 8 tỉ như đã đăng ký thì trong trường hợp này cũng mất luôn. Nhưng, họ chỉ mất số đó thôi, chứ còn tiền để ở nhà thì không sao; luật bảo là họ chịu “trách nhiệm hữu hạn”.

Do đó, đã là công ty - trách nhiệm hữu hạn, hay cổ phần - thì nó chịu trách nhiệm vô hạn; chỉ có người bỏ vốn được “hữu hạn”. Các khái niệm căn bản này của công ty vẫn thường bị hiểu lầm ở ta. Là “con nợ cuối cùng” nên khi lập ra con ma, cổ đông bảo nó “mày được phép có ngần này tiền làm vốn”. Do vậy, luật của Anh và Mỹ có khái niệm “authorized capital” (vốn được phép phát hành). Vào lúc công ty bị phá sản, cổ đông nào chưa góp đủ tiền như đã cam kết sẽ bị tòa buộc góp cho đủ. Họ bị ràng buộc bởi sự công bố của mình.

Tính chất pháp lý của vốn là như thế, nên khi con ma bị phá sản, vốn là số tiền mà chủ nợ của con ma và cổ đông tranh giành với nhau. Cổ đông được (do công ty tẩu tán tài sản) thì chủ nợ mất (họ cho vay 10$, nhưng có thể chỉ lấy lại được 5$); cho nên để đề phòng con ma tẩu tán tài sản, người ta đặt ra luật phá sản. Chỉ không trả được nợ cho một người thì con ma bị thưa phá sản ngay. Trong thủ tục phá sản, lại có thứ tự phân chia tài sản còn lại của con ma, ai lấy trước, lấy sau; do đó mà có nợ có bảo đảm và nợ không bảo đảm.

Tính chất thương mại của vốn

Ta đã nói về “vốn được phép phát hành”; đào sâu danh từ này thì ta đi sang ý nghĩa thương mại của vốn. Trước hết, là tiền bạc vốn sẽ tạo ra tài sản. Tài sản thì đem ra mua bán được và có thể nằm dưới các hình thức khác nhau như: giấy tờ có giá, động sản, bất động sản. Mua bán thì có luật cung cầu nên có lúc giá của tài sản lên hay xuống. Đấy là về phần vốn. Về phần con ma, bao lâu nó có tiền để trả nợ thì hoạt động… vô tư. Mà thực sự chẳng chủ nợ nào muốn nó bị phá sản. Con ma làm ăn lời lãi thì nó lắm của, nhiều tiền và số này sẽ cao hơn vốn được phép phát hành nhiều lần. Tính thương mại của vốn nảy sinh từ các điều kiện này.

Tác giả Huy Nam đã mô tả các sắc thái của vốn trong tính chất này. Ở đây - méo mó nghề nghiệp - tôi xin xếp chúng lại theo một thứ tự dễ hiểu hơn hầu có thể nêu một vấn đề khác.

Vì cứ còn tiền là con ma hoạt động vô tư, nên khi “cho phép” nó có - thí dụ - 10 tỉ đồng làm vốn, thì các cổ đông sáng lập chỉ góp 2 tỉ lúc đầu, cốt cho nó khởi động; sau này cần đến đâu thì góp tới đó. Sở dĩ vậy vì bỏ tiền ra thì ai cũng sợ mất; góp nhiều thì phải chia cổ tức nhiều, nên chi phí để có vốn (capital costs) sẽ cao; hơn nữa là khi con ma cần thì họ có thể kêu gọi người khác góp. Muốn vậy phải có cách làm. Để chia đều lãi lỗ với nhau, các cổ đông chia vốn thành từng phần đều nhau và định cho nó một giá để dùng giữa họ với nhau. Cái đó được gọi là mệnh giá của cổ phần (par value) hay giá danh nghĩa (nominal value). Số tiền cổ đông góp lúc đầu cho con ma theo mệnh giá được gọi là vốn đã góp (paid up capital). Cho người khác góp thêm sau này để đạt đến mức “cho phép” được gọi là công ty “phát hành cổ phần”. Việc ấy tạo nên sự chuyển nhượng hay mua bán vốn. Đã mua bán thì có giá cả và lời lỗ.

Vì vậy, vốn có giá thị trường, có khi lên cao, có khi xuống thấp; khi ấy mệnh giá của cổ phần không còn ý nghĩa nữa. Để sao mua bán lúc nào cũng có lời, người mua bán tìm nhiều cách tính toán như: chỉ số chứng khoán, tỷ lệ P/E, biểu đồ các loại để đánh giá công ty. Chúng ta nghe về các chi tiết này nhiều khi có thị trường chứng khoán, nơi có nhiều người mua hay bán cổ phần. Cổ phần có giá thị trường tạo nên “vốn hóa trên thị trường” (market capitalization). Cái vốn này cao hơn cái vốn “được phép” nhiều lắm. Và con ma sẽ khoe con số này để quảng cáo cho mình. Vốn là tiếng tăm!

Trong khi giá cổ phiếu của con ma trên thị trường lên hay xuống thì tiền cũng không phải là của nó, mà là của các người mua bán. Về phần mình con ma phải sử dụng tiền để kinh doanh và đóng thuế. Cho các việc ấy, nó có hệ thống sổ sách kế toán, bảng cân đối và báo cáo tài chính. Trước khi đóng thuế, nó phải lấy lại tiền đã chi tiêu. Nếu lấy hết một món tiền đã tiêu ngay trong năm thì tiền đó gọi là khấu hao; nếu chỉ được lấy lại trong vài năm thì tiền đó được gọi là “chi đầu tư vốn” (capital expenditure). Đọc lên thấy khó hiểu ghê! Sở dĩ có các vụ rắc rối ấy là vì Nhà nước có quyền chia một phần tư tiền lãi của con ma thì cũng phải cho nó giữ lại một số để sống mà… nộp thuế tiếp. Đóng thuế xong, con ma lập quỹ, chia cổ tức, hay giữ lại. Số tiền giữ lại kia sau vài năm cộng lại sẽ cao hơn nhiều so với số vốn đã được phép phát hành. Vốn này khác với “vốn hóa trên thị trường”. Bây giờ ta hiểu tại sao có lời hô hào “Đừng tin vốn điều lệ”! Nhưng điều ấy chỉ đúng trong tính chất thương mại của vốn.

Việc quản lý vốn

Ta du nhập định chế công ty vào mình bằng cách ban hành luật. Du nhập như thế thì nhiều khái niệm cơ bản và tập tục của định chế không được biết hết. Do đó thay vì bàn bạc về khái niệm, về tập tục thì ở ta người ta dễ tranh luận về từ ngữ.

Để quản lý vốn, ở các nước mà công ty đã có từ lâu thì việc ấy được phân chia như sau. Về tính pháp lý, tức là kê khai vốn “được phép phát hành”, thì việc ấy được giao cho cơ quan đăng ký công ty. Cổ đông khai sao, họ ghi vậy; không thắc mắc; ai khai nhiều mà không góp đã có chủ nợ khi công ty phá sản. Quản lý tính thương mại của vốn thì do những người giao dịch trực tiếp với công ty làm. Họ bỏ “khúc ruột” thì phải “chọn mặt gửi vàng”. Để bảo vệ họ, có tòa án và luật phá sản. Những người giao dịch gián tiếp với công ty cũng phải làm y chang và họ được ủy ban chứng khoán bảo vệ. Hệ thống quản lý vận hành theo nguyên tắc “ai có lợi ích thì phải tự lo” và cách quản lý là “đa đầu”. Cứ tưởng tượng các chủ nợ săm soi công ty thì thấy mức độ quản lý ấy chặt chẽ đến thế nào. Nhưng công ty cứ... vô tư kinh doanh, đừng để thiếu tiền mặt trả nợ! Quản lý lỏng nhưng chặt là như thế.

Ở ta quan niệm về tính chất của vốn không rõ ràng; dân giao dịch với công ty dường như theo nguyên tắc “khi lời lãi thì tìm cách né thuế, lúc lỗ lã thì trách móc chính quyền là không quản lý”; luật vay mượn chưa được cưỡng chế hữu hiệu, phá sản công ty chưa phổ biến; cho nên ta không thực hiện được cách quản lý “đa đầu”. Trong khung cảnh ấy, các cơ quan chức năng - Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Chứng khoán - bèn quản lý vốn theo nguyên tắc “chắc ăn cho mình - còn kệ họ”. Do vậy, cả hai đều không phân biệt tính pháp lý và thương mại của vốn; hoặc bắt chước theo tên mà không biết cách làm theo nghĩa. Điển hình là Nghị định 102/2010 quy định vốn đã góp tiền (paid up) là vốn điều lệ (nhận đăng ký) còn “vốn được phép phát hành” là “số cổ phần được quyền phát hành”! Vốn là tiền thì nó sẽ sinh sôi hay mất mát còn cổ phần chỉ là một sự giao ước của các cổ đông với nhau. Sao chủ nợ dựa vào giao ước đó được để thu hồi nợ?

Một điển hình nữa là Nghị định số 1/2010 buộc công ty cổ phần mua bán cổ phần trực tiếp (phát hành riêng lẻ) phải báo trước 20 ngày cho sở kế hoạch và đầu tư; rồi người mua không được bán lại trong vòng một năm; và các đợt phát hành phải cách nhau sáu tháng. Ủy ban Chứng khoán quản lý tính chất nào của vốn? Không phân biệt công ty gọi vốn từ một số ít người hay từ nhiều người.

Vì cách quản lý như thế nên người bị hoang mang là… báo chí! Sau khi có một ông ở TPHCM mở 37 công ty, thì một tờ báo đã đặt câu hỏi là Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch Đầu tư TPHCM đã kiểm soát như thế nào mà để cho việc ấy xảy ra. Và đặt một cái tựa cũng không kém hoang mang “Hiểm họa vốn ảo!”. Người quan tâm… bình loạn! Nhà nước quản… rối tung! Cái vòng ấy sẽ kéo dài miên man, sao mà hội nhập với thế giới?

Read more...

Thứ hai, ngày 01 tháng tám năm 2011

Đã sẵn sàng ....

Cài cắm đã xong:

  • VMware Workstation - 7.0.1 build-227600
  • Windows Server 2003 (Ent) - SP3
  • ....
Sẵn sàng để phơ với cả show-off đây....

Read more...