Hiển thị các bài đăng có nhãn The X file of History. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn The X file of History. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao nhà Tây Sơn sụp đổ?

© Giang Lê - The X file of History

Trong lịch sử Việt Nam tồn tại không ít các cuộc khởi nghĩa nông dân; tuy nhiên đỉnh cao nhất phải kể đến là phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Một cuộc khởi nghĩa vĩ đại, lập nên một sự nghiệp oanh oanh liệt liệt nhưng lại quá ngắn ngủi. Bởi trong đó đã tồn tại rất nhiều hạn chế chết người.

Bài viết dưới đây của bạn Giang Lê đến từ Cần Thơ, cảm ơn bạn, và chúng tôi luôn hoan nghênh những bài viết lịch sử xuất sắc gửi đến page The X file of History.

Ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ



Có một điều mà lịch sử đã bị chiến công vĩ đại của Quang Trung ở Thăng Long che lấp đi ít nhiều. Dù đã càn quét từ nam chí bắc, Quang Trung vẫn chưa thật sự thống nhất được toàn vẹn theo kiểu Trung Ương mà theo kiểu cát cứ. Chính ở đó, xuất hiện hạn chế thứ nhất.

Để bắt đầu nói về hạn chế này, phải nói về 1 bài học mà Tần Thủy Hoàng bên Trung Quốc đã làm, cũng thống nhất sau khi thu về được 6 nước tách biệt. Ngay khi đánh bại lục quốc; Thủy Hoàng Đế đã ra lệnh hủy bỏ danh xưng của các quốc gia cũ; chia cả nước ra làm 36 quận; đặt hệ thống quan lại hành chính quản lý các quận cùng với hệ thống giám sát; song song với đó ông định luật pháp như thời Thương Ưởng để nhanh chóng đưa đất nước đi vào quỹ đạo ổn định. Thống nhất luật pháp, thống nhất lãnh thổ; từ đây Trung Hoa hoàn toàn đặt dưới bàn tay trị vì của ông vì khi đó chỉ còn một quốc gia duy nhất, đó là Đại Tần. Sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể làm được là do ở nước Tần, ông là minh chủ cao nhất và duy nhất, không ai đứng trên hay ngang ông, Đại Tần là quốc gia thống nhất.

Nhưng ở thời Tây Sơn, lãnh thổ đã bị chia ba, không lập quốc hiệu riêng; tương tự như cách một ông Hội đồng địa chủ chia gia tài cho các con của mình; mỗi người một căn nhà, vài trăm công ruộng, tự sinh tự diệt; người nào tài giỏi thì có thể tạo lập sản nghiệp như ông cha; lười biếng thì sẽ tiêu hết sản nghiệp khiến cho tài sản ông bà để lại tiêu tán. Quốc gia thì không thể như vậy; quốc gia phải thống nhất, sức mạnh cộng hưởng từ tất cả các vùng đất trong cùng một đất nước tạo ra sức bật lớn cho sự phát triển. Và khi mà triều Tây Sơn thực hiện việc chia lãnh thổ như cách một ngài Hội đồng chia đất; thì kết quả là người con tài giỏi nhất Nguyễn Huệ mở mang được ra Bắc Hà trong khi người con yếu đuối nhất là Nguyễn Lữ lại để mất Nam Hà vào tay kẻ tử thù, cơ nghiệp từ đó mà mang họa diệt vong. Thế mới thấy được việc “trị quốc, bình thiên hạ” xử lý theo thói “tề gia” là cực kì nguy hại.

Tính chính thống của Tây Sơn: Tính chính thống là đến từ lòng dân; lòng dân công nhận thì mới được xem là chính thống. Triều Tây Sơn gặt hái một vài tích cực về phương diện chính thống khi nhận được sự thừa nhận từ nhà Thanh, quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực. Tuy nhiên, chỉ như thế thôi thì không đủ. Thời điểm Tây Sơn bắt đầu hoạt động, bối cảnh chính trị xã hội ở Đàng Trong lúc này khá nhiều rối ren. Các chúa Nguyễn không còn khả năng kiểm soát chính quyền, đại thần Trương Phúc Loan nổi lên như một nhân vật chính trị trung tâm của vũ đài chính trị Đàng Trong. Khác với Hồ Quý Lý hay Mặc Đăng Dung trước đây; Trương Phúc Loan tuy tiếm quyền nhưng không đủ khả năng khống chế đại cục, tranh giành vương vị. Ông ta chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực mua quan bán tước, tích trữ của cải. Và đó là thời cơ thích hợp để phong trào Tây Sơn nổ ra; khởi nghĩa nêu cao khẩu hiệu ủng hộ Hoàng Tôn Dương, đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan. Cần lưu ý ở đây là ngay từ đầu nguyên nhân khởi nghĩa là để ủng hộ chúa Nguyễn; Tây Sơn đã ngầm công nhận chúa Nguyễn là lãnh đạo hợp pháp của Đàng Trong, nhờ đó mà dân chúng đã hưởng ứng và đi theo nghĩa quân. Nhiều cánh quân khởi nghĩa ban đầu theo Tây Sơn do nghĩ rằng Tây Sơn phò chúa Nguyễn; nhưng sau này khi thấy Tây Sơn thẳng tay giết hại các chúa thì đã ly khai và chống lại, tiêu biểu như cánh quân Chu Văn Tiếp. Tây Sơn dùng ngọn cờ ủng hộ chúa Nguyễn để tranh thủ lòng dân, và khi đã có được thực quyền thì họ lại ra tay sát hại các chúa không thương tiếc; mồ mả chín chúa nhà Nguyễn đều bị quật lên, tro cốt ném xuống sông; tổ chức truy sát công khai con cháu nhà Nguyễn.

Đồng ý đã thay triều đổi đại thì không nên cải lương, hay mềm lòng; nhưng có chăng họ đã quá vội vàng. Giết hại các chúa Nguyễn là Tây Sơn đã bắt đầu tháo bỏ chiếc mặt nạ chính thống mà mình đã kì công đeo bấy lâu, điều này đã chạm sâu đến lòng trung thành của những người còn thờ chúa.

Lùi về lịch sử hơn ba thế kỷ trước, khởi nghĩa nông dân Lam Sơn của Lê Lợi trong những ngày tháng chiến đấu ác liệt cuối cùng, để có thể thỏa hiệp với Vương Thông, lập con cháu nhà Trần nối ngôi. Ông đã cho lập Trần Cảo – hậu duệ nhà Trần lên làm vua, bản thân mình giữ chức Vệ quốc công. Sau đó, Trần Cảo thân cô sức yếu, sợ bị giết phải bỏ trốn. Lê Lợi cho người đuổi theo, ép uống độc chết. Nhà Trần không còn con cháu, nghiễm nhiên vương vị thuộc về Lê Lợi. Cùng một bản chất, thủ đoạn ra tay đều tàn độc; nhưng Lê Lợi đã thực hiện có phần “tinh tế” hơn, ít bị điều tiếng. Có thể dẫn ra giả thiết rằng Quang Trung đã dự đoán được trước các mối nguy hại này và Ngài tự tin với khả năng của mình có thể dọn dẹp tất cả trong 10 năm hay 20 năm. Tiếc thay, người tính không bằng trời tính; Ngài ra đi quá sớm khiến những vấn đề Ngài đặt ra là một bài toán quá khó đối với ấu chúa Quang Toản.

Một vấn đề quan trọng khác: NGƯỜI HOA. Nói về Nam Hà; miền Nam trước đây vốn bao gồm đất đai của Chân Lạp và các vùng đất chưa được khai phá. Các bồ thần nhà Minh vì tránh nạn quân Thanh đã đến nương nhờ chúa Nguyễn, chúa giao cho họ khai dân lập ấp các vùng đất mới. Từ đây, đất đai Đàng Trong ngày càng được mở rộng hơn về phía Nam và hình thành nên cộng đồng người Hoa đông đảo, giàu có. Người Hoa không thể một mình chống giữ các vùng đất mới nên cần phải nương nhờ các chúa, trở thành thần tử của chúa Nguyễn tạo nên mối liên kết, đó có thể xem là một mối ân tình. Từ đó, người Hoa tại Nam Hà luôn trung thành với chính quyền chúa Nguyễn. Nhưng mọi thứ trở nên xáo trộn khi Tây Sơn tiến đánh Nam Hà. Họ cho quân lính phá tan các khu vực buôn bán giàu có của người Hoa như vùng Cù Lao Phố. Đỉnh điểm là việc Thái Đức cho thảm sát 1 vạn người Hoa tại Nam Hà để báo thù cho Phạm Ngạn, tướng thân cận của Thái Đức. Ra chiến trường, đồng đội hơn anh em; một đồng đội chết cả đội quân có thể xông lên báo thù. Tuy nhiên, đó chỉ là cảm tính của người lính. Đằng này, Nguyễn Nhạc đường đường là tổng tư lệnh chỉ huy ba quân mà lại cư xử theo kiểu tình cảm vụn vặt. Huống chi ra chiến trường, anh không chết thì tôi chết, cái chết của Phạm Ngạn là chiến tử nơi sa trường, sao có thể xem là bất công để rồi báo thù.

Hãy nhìn cách Nguyễn Ánh đối đãi với dân chúng Quy Nhơn khi Ngài chiếm được; Ngài thừa biết Quy Nhơn là đất tổ của Tây Sơn nhưng vẫn không tiến hành báo thù; ngược lại còn giảm bớt thuế má, yên ủi lòng dân, nhờ đó dẹp tan sự chống cự; để sau này Võ Tánh an tâm thủ thành Quy Nhơn cả năm trời trước sức tấn công vũ bão của Tây Sơn. Hành động thảm sát người Hoa của Thái Đức đã vĩnh viễn đẩy người Hoa về với Nguyễn Ánh. Ân tình của chúa Nguyễn và ân oán với Tây Sơn đã khiến người Hoa tại Nam Hà hết lòng ủng hộ Nguyễn Ánh cả về nhân lực lẫn vật lực; giúp cho Ngài có thể giành được thế đứng chân tại Nam Hà; tạo nền tảng để đánh bại Tây Sơn về sau.

Hạn chế thứ hai đến từ sự phân tán quyền lực và chia rẽ nội bộ. Đây chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Tây Sơn. Như đã nói ở trên, Tây Sơn thực chất giống một tập đoàn quân sự nhiều hơn là một vương triều chính thống. Mà đã là một tập đoàn thì sẽ bị lãnh đạo bởi nhiều cá nhân chứ không phải duy nhất. Nếu các cá nhân tài giỏi và đoàn kết thì tập đoàn sẽ mãi hùng mạnh, còn nếu chia rẽ hay tranh thủ lợi ích nhóm thì tất yếu sẽ suy kiệt. Có thể nhìn thấy trong thế giới thực tại với bằng chứng là tập đoàn Lotte của Hàn Quốc. Việc đấu đá quyền lực của cha con, anh em trong gia đình đã đẩy tập đoàn vào chỗ khốn cùng; các thành viên liên tục tố cáo lẫn nhau vô tình bóc mẽ nhiều sai phạm của Lotte trong mắt công chúng cùng với cơ quan tư pháp. Tây Sơn lúc mới thành lập là một nội bộ đoàn kết, lí tưởng (cướp của người giàu chia cho người nghèo) tuy nhiên sau khi giành được chính quyền dần bộc lộ sự tha hóa; lạm dụng vũ lực để giành quyền cai trị nhiều hơn là tranh thủ lòng dân; tiêu biểu là việc dùng vũ lực với người Hoa ở Nam Hà, điều này đã bị Nguyễn Ánh sau đó khai thác triệt để. Thái Đức ăn chơi hưởng lạc; chỉ bo bo giữ những gì mình có (trên cương vị là nhà sáng lập mà hành động như vậy thì sẽ tạo ra phản ứng không tốt đối với cấp dưới); nội bộ đánh giết lẫn nhau khiến dân chúng lầm than. Khởi đầu là tranh chấp giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ.

Tây Sơn có hai trung tâm quyền lực chính là Quy Nhơn (Thái Đức) và Phú Xuân (Quang Trung, sau này là Cảnh Thịnh), đáng buồn là hai trung tâm này lại không vui vẻ gì; luôn phải đề phòng lẫn nhau. Đông Định Vương Nguyễn Lữ giữ Gia Định nhưng khả năng quân sự hạn chế, nhút nhát, chỉ cần kế ly gián nhỏ là đã bỏ chạy; Phạm Văn Tham phải một mình chống giữ và tất yếu mất về tay Nguyễn Ánh. Có thể thấy việc phân tán quyền lực đã làm cho sức mạnh Tây Sơn tại Gia Định yếu đi rất nhiều. Nếu chính quyền ở Quy Nhơn tập trung toàn lực hỗ trợ cho miền Nam thì chưa chắc Nguyễn Ánh đã dễ dàng tạo được thế đứng chân trên thành Gia Định. Nhưng không, Quy Nhơn đang còn bận đối đầu với “đại địch” Phú Xuân, hơi sức đâu mà giữ Nam Hà.

Sự chia rẽ nội bộ: ở đây có đến hai sự chia rẽ; chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân (chia rẽ trong Hội đồng quản trị) và chia rẽ giữa nội bộ tại Phú Xuân (chia rẽ trong Ban giám đốc). Chia rẽ giữa Quy Nhơn và Phú Xuân thể hiện ở việc Thái Đức lo sợ quân Phú Xuân tấn công nên chỉ lo phòng bị phía Bắc; từ chối hoặc hạn chế cứu viện cho chiến trường phía Nam. Thậm chí khi Quang Trung mất năm 1792, Thái Đức cũng không thể đi viếng do quân của Cảnh Thịnh ngăn giữ. Đỉnh điểm năm 1793, Thái Đức bị Nguyễn Ánh vây đánh Quy Nhơn đã cầu viện Phú Xuân giúp đỡ. Các tướng của Phú Xuân vận dụng “rất tốt” kế sách “Mượn đường diệt Quắc”; đánh lui quân Nguyễn xong sẵn chiếm luôn thành; việc làm này khiến cho Thái Đức uất hận mà chết. Sách lược này đã được các tướng Tây Sơn vận dụng không đúng lúc. Ngoại địch lúc này còn đang quá mạnh, chưa thể tiêu diệt mà lại gây ra tranh chấp lớn, mất đoàn kết nội bộ. Thực tế sau đó, các tướng lĩnh trung thành với Thái Đức đã bị nghi kị và giết hại; một số đã bỏ sang phe Nguyễn Ánh; điển hình là tướng Lê Trung - một trong những người tham gia tích cực chiến trường Nam Hà - trước đây theo Nguyễn Nhạc đã bị giết chết, con trai (có tài liệu nói con rể) là Lê Chất phẫn nộ mà bỏ sang phe Nguyễn Ánh, thông báo nội tình thủy quân Tây Sơn cho Nguyễn Ánh biết. Tướng Phan Văn Lân đang canh giữ biên giới phía Bắc sau khi nghe tin đã bất mãn mà bỏ đi. Việc phân biệt giữa những người theo Thái Đức và những người theo Cảnh Thịnh đã làm nội bộ Tây Sơn thêm xào xáo, ám hại lẫn nhau ngày càng nhiều và dần suy yếu.

***

Bây giờ là câu chuyện về những ngày đánh nhau của Tây Sơn sau khi Quang Trung mất.

Ngoại thích Bùi Đắc Tuyên nắm quyền hành. Để nói về tầm của Bùi Đắc Tuyên thì có thể kể đến việc: trong yến tiệc, vì muốn mua vui cho Thái tử Quang Toản mà Bùi Đắc Tuyên đã yêu cầu hai võ tướng giỏi côn pháp là Võ Đình Tú và Đặng Văn Long thi tài đấu côn. Hai tướng đành miễn cưỡng ra thi đấu. Sau vua Quang Trung biết được sự việc đã lên tiếng quở trách và nghiêm cấm không được tái diễn. Có thể thấy nhân vật này là người rất có “tài” làm chia rẽ nội bộ. Năm 1794, danh tướng Lê Văn Hưng sau khi mang quân đánh Phú Yên, đã hợp sức với Nguyễn Quang Huy (tướng của Thái Đức) chiếm lại được từ tay quân Nguyễn. Sau đó Hưng giao cho Nguyễn Quang Huy giữ rồi rút về. Bùi Đắc Tuyên nhân đó xàm tấu với Cảnh Thịnh rằng Hưng có ý phản nghịch (cấu kết với phe Quy Nhơn) nên bắt giết; Tây Sơn vì thế mất một tướng tài.

Chưa dừng lại, Võ Văn Dũng đang ở Thăng Long cũng bị Tuyên triệu tập về Phú Xuân hòng kiềm chế. Trên đường về Võ Văn Dũng đã gặp Trần Văn Kỷ (đang bị Tuyên lưu đày) nên biết sớm thông tin và ra tay trước. Võ Văn Dũng huy động các tướng lĩnh bắt giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tiện tay triệu hồi Ngô Văn Sở ở Thăng Long về xử chết vì cho rằng Sở thuộc phe của Tuyên. Cuộc thanh trừng nội bộ này khiến cho Trần Quang Diệu dù đang tiến quân rất thuận lợi ở Diên Khánh cũng phải rút về để giải quyết, về đến Phú Xuân suýt nữa là đánh nhau với Võ Văn Dũng. Liên tiếp về sau; Tây Sơn liên tục rơi vào tranh đấu nội bộ, lạm dụng quân đội để giải quyết mâu thuẫn. Các tướng tự lập phe phái, xàm tấu lẫn nhau, không coi trọng ấu chua. Về phần mình, Cảnh Thịnh sợ uy quyền lớn mạnh của các tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú,..nên đã tìm cách chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các tướng. Có thể nói Tây Sơn từ lục đục chìm sâu hơn vào khủng hoảng nội bộ; ấu chúa chẳng những không thể giải quyết mà còn tiếp tay thêm vào quá trình mâu thuẫn. Một Tây Sơn lục đục nội bộ, mất lòng dân đối đầu với một Gia Long đang hừng hực khí thế, quân đội hùng mạnh. Cán cân cuộc chiến đã bắt đầu có sự dịch chuyển.

Về Quang Toản: Vua Quang Trung có thể không nhìn sai về Quang Toản; nhưng Ngài không thể thắng được thời gian. Nếu Quang Trung có thể sống lâu hơn 10 hay 20 năm thì biết đâu rằng Ngài có thể đào tạo Quang Toản thành một minh chúa. Trước khi mất, Ngài còn đánh giá: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!”.

Từ những gì vua nói lúc lâm chung có thể mang đến cho chúng ta nhiều vấn đề. Thứ nhất, Ngài lo lắng về việc Quang Toản còn quá nhỏ để có thể điều hành công việc; điều này đã quá hiện hữu. Thứ hai, Quang Trung nhìn nhận quân Gia Định của Nguyễn Ánh là thế lực nguy hiểm nhất vào thời điểm hiện tại. Ngài đã dự định huy động một đội quân hùng hậu vào Nam, quyết tâm tiêu diệt kẻ đại thù. Một kế hoạch vô cùng chu đáo; chặn đứng mọi con đường sang Xiêm hay ra biển của Nguyễn Ánh; Quang Trung thực sự đánh giá rất cao Gia Long. Điều đó càng thể hiện rõ khi ban đầu Ngài dự định một kế hoạch khổng lồ chủ động tấn công vào sào huyệt kẻ thù; nhưng khi đổ bệnh Ngài chỉ yêu cầu Trần Quang Diệu phải tập trung toàn lực giúp Quang Toản dời đô về Nghệ An, chuyển hoàn toàn sang thế thủ. Ngài đánh giá được rằng ngoài bản thân mình ra thì Tây Sơn không còn ai đủ khả năng dẫn quân vào Nam đương đầu với Nguyễn Ánh. Trong khi Phú Xuân lại không phải là nơi dễ phòng thủ so với sức mạnh thủy quân nhà Nguyễn. Tiếc thay, không một ai trong Tây Sơn làm theo lời yêu cầu cuối cùng của nhà vua.

Sự chênh lệch tầm nhìn cũng như năng lực giữa Quang Trung và cấp dưới quá rõ rệt tạo ra một lỗ hổng lớn khi Ngài mất. Thiếu Ngài, tác chiến không có định hướng, rối bời. Trước đây, thủy quân Tây Sơn dù yếu hơn; nhưng nhờ có Quang Trung chỉ huy, họ vẫn anh dũng đánh bại thủy quân của Gia Long. Giờ đây, mọi chuyện đã khác; quân chủ lực Tây Sơn do Trần Quang Diệu nắm giữ đánh rất khá nhưng không giành được thắng lợi quan trọng, chỉ làm tròn vai chứ không gây đột biến. Võ Văn Dũng giỏi chính trị, ngoại giao nhưng cầm quân không tốt, liên tục bại trận, nướng hết thủy quân. Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết co cụm phòng thủ, không đóng góp được gì nhiều. Lê Văn Hưng, Lê Trung, Ngô Văn Sở đều đã bị giết. Giới văn nhân hoàn toàn bị đặt ra ngoài vòng chiến, Ngô Thì Nhậm tham gia chiến trường hạn chế. Quân Tây Sơn tác chiến theo kiểu dập lửa; cháy đâu dập đó; không ngăn được đám cháy lan tỏa.

Điểm sáng duy nhất trên chiến trường có lẽ là Nguyễn Quang Huy, thân yếu thế cô nhưng liên tục khuấy đảo bên trong lòng địch. Tuy nhiên; tất cả đều là không đủ. Tây Sơn sụp đổ như một vấn đề tất yếu.

Lời kết:

Cái chết của Vua Quang Trung luôn là một điều tiếc nuối lớn của lịch sử. Tuy nhiên, sự sụp đổ của Tây Sơn thì chưa hẳn. Họ đã quên đi cách thu phục lòng dân mà mải mê đấu đá nhau. Nếu lòng dân nhìn Nguyễn Ánh với sự xấu xa, thì cớ sao Nam Hà chưa bao giờ quên ngài? Việc bỏ quên lòng dân khi lên đến đỉnh cao danh vọng là hạn chế cuối cùng nhưng đấy là hạn chế lớn lao mang tầm vĩ mô nhất.

Nguyễn Trãi đã từng nói: “Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước, nước có thể chở thuyền nhưng nước cũng có thể lật thuyền được.”

Trên một bình diện nào đó, với những hạn chế của Tây Sơn ta lại thấy được cái chính trị toàn diện của Gia Long Nguyễn Ánh.

Rất nhiều người tiếc, nhưng cũng có thể chưa hẳn đã tiếc. Chỉ biết rằng lịch sử đã chọn Gia Long thay vì Quang Trung.

Ngô Tuấn Lý Thường Kiệt: Phá Tống


Đây là bài viết của bạn Dũng Phan trên page "The X file of History" về Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt.

Page "The X file of History" là một page rất hay trên Facebook (tốn của tui kha khá thời gian), nhưng bực nhất là các bài thường post theo kiểu mô tả ảnh nên khi xem lại thì chữ đọc rất khó chịu, thế nên copy ra đây để đọc lại cho dễ dàng.

Và để tham gia bình luận trao đổi, mời vào trực tiếp tại page "The X file of History".

Phần trước: Bình Chiêm



Câu chuyện hôm nay để hiểu về con đường mà cha ông ta đã từng đi. Hãy góp phần bảo vệ quê hương, đấy là vùng đất cha ông ta đổ xương máu để giành được. Lịch sử luôn công bằng, lịch sử sẽ hỏi ta rằng, đất không phải là ta giành được, đất là do cha ông đổ máu mà có, thế hệ sau hãy phát triển hoặc giữ gìn mảnh đất chứ đừng phá công sức của cha ông.

Nếu hôm nay phá hoại tấc đấc của cha ông, ngày xuống suối vàng, trả lời sao với tiền nhân đây?



PHÁ TỐNG

Các bạn đây hẳn đã từng đọc hoặc xem “Thiên long bát bộ” của Kim Dung rồi chứ. Hà hà. Nhiều fan kiếm hiệp đang khấp khởi mừng thầm rồi. Tạm thời tôi không nói sâu về những Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc hay Mộ Dung Phục. Tôi sẽ nói về một chi tiết trong tác phẩm này để các chú ý. Thiên Long Bát Bộ thực là cuộc chiến giữa 5 nước: nhà Tống, Đại Lý, Đại Liêu, Thổ Phồn và Tây Hạ. Ngoài ra còn thấp thoáng một quốc gia bị diệt vong đang mong phục quốc: Đại Yên của nhà Mộ Dung Cô Tô. Có bao giờ các bạn thắc mắc, thời điểm đó Đại Việt ở đâu? Và cùng thời ấy là thời nào của triều đại nước ta?

Câu trả lời chính là thời Lý. Đó cũng là giai đoạn Đại Việt và Đại Tống có một trận can qua. Nơi đó, người thật việc thật: Lý Thường Kiệt của chúng ta đã “thổi bay” 10 vạn quân Tống. Trước đó có một trận đánh kinh thiên động địa ở các Châu Ung, Châu Khiêm, sát nách Đại Lý. Nghe đâu Đại Lý Đoàn Thị qua giúp sức, Nhất Dương Chỉ mới thi triển được 3 phần, thì bị Lý Thường Kiệt đằng không bay lên cho một chưởng “Thăng Long pháo” văng xuống sông, trôi mất xác (À, tôi đùa thôi! 😁)

Kim Dung không thể và không dám đưa Đại Việt vào là để ta thấy đất nước ta đáng tự hào đến thế nào. 5 nước xung quanh Đại Hán hôm nay không còn xuất hiện trên bản đồ nữa, chỉ dùng làm nguyên liệu cho văn học. Chỉ có đất nước ta, một cõi sơn hà, độc lập và phát triển. Ấy chính là vì đất này luôn sinh ra người tài để bảo vệ lãnh thổ, đất này luôn sinh ra anh hùng.
Nếu cái ngày hôm ấy Lý Thường Kiệt không có, hay trước đó chúng ta không có những Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh. Sau này không có những Quang Trung, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo. Chỉ e chúng ta cũng là một phần của Thiên Long Bát Bộ rồi.

Tại sao tôi lại bắt đầu bằng Thiên Long Bát Bộ? Không đơn thuần là để các bạn có sự liên tưởng thú vị qua đó dễ nhớ sử ta hơn (do truyền hình ta làm phim dở quá). Mà để ta biết điều này: nhà Tống đánh nước ta, ắt có uyên nguyên với cuộc chiến phía Bắc với Đại Liêu, Thổ Phồn và Tây Hạ.

Có hai giả thiết:
  1. Thứ nhất: Đại Việt và Đại Liêu có thể có thư từ qua lại. Nếu Đại Liêu đánh xuống và Đại Việt đánh lên, Đại Tống bị kẹp ở giữa, lưỡng đầu thọ địch. Và họ quyết định ra tay trước.
  2. Thứ hai: Lúc này, Vương An Thạch đang tiến hành cải cách trong nước, gây ra xáo trộn mạnh. Muôn đời, khi trong nước loạn, lãnh đạo luôn kiếm kẻ thù bên ngoài để làm yên lòng dân bên trong và tạo sự đoàn kết. Và nhà Tống chọn Đại Việt, vì họ luôn nghĩ rằng miếng đất phía Nam này vốn thuộc về họ. Lấy Đại Việt là muốn biến Đại Việt và vùng phía Nam trở thành hậu phương cho nhà Tống đánh phía Bắc. Nơi cung cấp lương thực, nhân khẩu cho chiến tranh với Đại Liêu.

Các bạn nhớ cho điều này “Lịch sử là vòng tròn đồng tâm”.
Về giả thiết thứ hai: Hãy nhìn hiện tại hôm nay luôn, Tập Cận Bình “đả hổ diệt ruồi”, gây xáo trộn bộ máy. Cũng tương tự như Vương An Thạch hồi thế kỷ XI. Bên ngoài Ấn Độ và Mỹ luôn ngăm nghe Trung Quốc, Tây Tạng thì luôn bạo động, xã hội TQ ngày càng bất mãn, ô nhiễm rất lớn. Y như giai đoạn Đại Tống và Đại Liêu kiềm nhau. Nhìn quanh quất, họ lại để ý thằng em tội nghiệp Việt Nam này ấy chứ. Dù rằng chiến tranh thời hiện đại không phải muốn chiến là chiến.
Còn giả thiết thứ nhất cho bạn bài học gì? Câu chuyện Việt Nam luôn “đi trên dây” với Mỹ và Trung Quốc là vì như vậy. Chúng ta phải làm bạn, phải khéo léo với tất cả. Cho nên cảm phiền bớt chửi lại. Chính trị là một ván bài phức tạp. Giữa các nước lại càng đau đầu. Nhưng ta cũng cần tự vấn: liệu ta có một Lý Thường Kiệt của hôm nay hay không?
Suy ngẫm hiện đại đủ rồi. Giờ quay lại chuyện chính. Theo lý nào đi chăng nữa, thì Đại Tống cũng muốn “ăn” Đại Việt.
Các bạn biết Đại Tống làm gì đầu tiên không? Mua chuộc và Hứa hẹn. Mua chuộc ai? Các tù trưởng phía Bắc biên giới để họ dọn đường cho quân Tống tiến vào Thăng Long. Hứa hẹn ai? Hứa hẹn với Champa và Chân Lạp. Tạo thế hai vọng kềm đánh vào Đại Việt.

Nghe quen không? Ba mươi năm trước, ta cũng phải đánh nhau hai đầu biên giới với Trung Quốc và Campuchia (Đặng Tiểu Bình và Pôn Pốt). Đúng kiểu kẹp 2 đầu luôn. Giờ đã tin tôi nói “Lịch sử là vòng tròn đồng tâm” chưa? Bởi vậy lịch sử quan trọng, vô cùng quan trọng. Nó là bài học cho dân tộc tồn tại và phát triển. Còn ai thích tô hồng hoặc bóp méo, xóa sổ lịch sử ra khỏi giáo dục thì sẽ trả giá vì không biết rút bài học (muôn đời người ta chỉ rút bài học từ cái sai của mình). Nhưng lỗi không phải của học sinh mà vì cách dạy đã khiến các em không đam mê. Để giờ lại đòi xóa bỏ môn học này.

Gọng kềm vì thế cứ từ từ siết chặt lấy Đại Việt từ các hướng. Trên biển, phía Nam là Chân Lạp, Champa. Bên trên là các cánh quân đang điều động và các vị tù trưởng phía Bắc. Tưởng tượng như một dây thòng lọng xiết lại từ từ. Bạn phải biết nhà Tống rất khôn. Đánh nhưng lại cố tình như không đánh, tất cả đều làm âm thầm. Thậm chí còn không dám tiếp nhận tù trưởng nắm vị trí trọng yếu của nhà Lý vì sợ “rút dây động rừng”. Ta biết được chẳng qua vì mật thám và tình báo của nhà Lý giỏi thôi. Cha ông ta dù mang tiếng thần phục, nhưng luôn đề phòng dã tâm ở đất Bắc.

Lý Thường Kiệt – càng nghĩ tôi càng thấy ông quá giỏi. Không chỉ giỏi mà còn bản lĩnh nữa. Kẻ hèn thì rúm ró, người bản lĩnh thì sẽ nghĩ: “Đứng trước cái thòng lọng xiết lại đó, sao không lòn khỏi thòng lọng và đấm cho mỗi thằng mỗi quả đi?” Ở đây không chỉ dũng cảm, mà còn tự tin mình giỏi, biết mình giỏi, dám làm.

Tháng 8/1075, Lý Thường Kiệt kéo quân xuống phía Nam đánh Chiêm Thành, đuổi Chiêm Thành ra khỏi biên giới, và để lại một lượng lớn dân di cư và quân đội ở các châu vừa chiếm được. Đấm quả đấm đầu tiên.

ĐÁNH TRÊN ĐẤT ĐỊCH

Tháng 10/1075, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía Bắc, tấn công toàn biên giới Trung Quốc, đánh cho nhà Tống một trận tối tăm mặt mũi. Đấm quả đấm thứ hai.

Tại nơi đây, chúng ta được chứng kiến một trận chiến vô tiền khoáng hậu trong lịch sử dân tộc này.

Lý Thường Kiệt không phải đánh chơi, mà là đánh thật. 10 vạn quân chia làm hai đường thủy bộ tập kích các châu Khâm, châu Liêm.

À, ở đây có bạn nào ở Quận 4 – TPHCM nhỉ? Đường Tôn Đản đã ghi sai. Tên đúng phải là Tông Đản. Và Tông Đản chính là vị tướng tập kích Châu Ung (còn Lý Thường Kiệt tập kích châu Khâm, Liêm). Giờ qua đường đó nhớ biết nhé.

Tông Đản đánh trước, ông cùng các tù trưởng phía Bắc ào ạt đánh hướng Tây Nam, dẹp các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Tây Bình của Tống nằm gần biên giới. Nhân đà thắng lợi, cho tiến quân về thành Ung Châu. Thành Ung Châu cầu cứu ở các thành khác. Không ai biết rằng cánh quân của Lý Thường Kiệt đang lặng lẽ đánh úp từ phía Đông Nam (quá hấp dẫn).

Giữa tháng 11/1075, khi chiến sự đang đổ dồn mắt về phía Tông Đản ở Tây Nam, thì Lý Thường Kiệt đi đường thủy, trong đêm tập kích vào thành Khâm Châu. Lặng lẽ và hiệu quả tới mức khi bắt quan giữ thành Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái thì đồng chí này vẫn đang nhậu nhẹt. Ba ngày sau đến lượt Liêm Châu bị hạ. Quan giữ thành là Lỗ Khánh Tôn cùng thuộc hạ bị giết chết. Quân nhà Lý bắt hơn 8000 tù binh, ép làm khuân vác, thu gom của cải lên thuyền chở thẳng về Đại Việt.

Trong 3 châu, như vậy chỉ còn Châu Ung.

Lý Thường Kiệt đưa thư sang cho Tông Đản. Hai bên cùng kéo quân từ hai hướng tiến về Châu Ung.

Ok. Dừng tại đây. Các bạn biết về Lý Thường KIệt đều biết về bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”. Ý nghĩa bài thơ này ngoài một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, còn là cái nâng cao sĩ khí để Đại Việt trụ vững trước cuộc tiến công của Quách Quỳ ở sông Như Nguyệt. Cái này SKG hi hi.

Nhưng nếu bạn chỉ biết Lý Thường Kiệt mỗi Nam Quốc Sơn Hà thì bạn đã đánh giá ngài thấp quá rồi. Ở phần 1 tôi đã nói cho các bạn biết: đây là một bậc đại trí, đại dũng, văn võ song toàn, mặt đẹp như ngọc. Còn nhớ chứ? Cái “văn” của Ngô Tuấn không chỉ ở bài thơ ấy đâu, mà còn một cái hịch chiếu nữa trên đất Bắc.

SGK viết rằng: Lý Thường Kiệt trước khi đánh, thảo chiếu nói rõ mục đích khiến dân thành Ung Châu chào đón. Haha. Cái này không phải tự sướng đâu. Thật đấy! Lý Thường Kiệt đã nhìn nhận Ung Châu “thành cao, hào sâu”, “thủ dễ, khó công”, cực kỳ mệt mỏi, chưa kể lúc này châu Khiêm, Liêm đã bị đánh, hoàn toàn nơi đây có thể phòng bị kỹ càng, cố sống chết để đánh. Thế là Lý Thường Kiệt cho chiếu đi trước, lính đi sau, đánh vào tâm lý người dân Tống.

Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !
Dân Tống nghe xong, sướng lắm, vốn cũng ghét triều đình hủ bại, đưa rượu thịt ra khoản đãi quân nhà Lý. Đấy, cái “văn”, cái tâm lý chiến tài năng của Ngô Tuấn ngoài Nam Quốc Sơn Hà còn ở đó đấy.

Cuộc vui chưa hết đâu! Chẳng lẽ quân Tống làm cảnh. Việt Nam ta có Lý Thường Kiệt thì nhà Tống có Vương An Thạch. Nhà cải cách này của Trung Quốc quyết không chịu kém, soạn lại một chiếu thư khác tên là “Thảo Giao Chỉ Chiếu”, khích lệ quân dân nhà Tống, đánh lại Đại Việt. Hai đoạn chiếu thư chớp chớp lóa lóa, va nhau ken két.

Hỡi nhân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ, xuất chúng qui phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận, thì sẽ được thưởng tứ tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá. Càn Đức (vua Lý Càn Đức) đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng một nước chư hầu của ta luôn được yên vui.

Bố Cáo của Lý Thường Kiệt giúp quân Đại Việt đến được chân thành mà không tốn nhiều công sức. Còn chiếu thư của Vương An Thạch lại tạo nên một Tô Giám liều chết giữ thành Ung Châu. Tại nơi đây, một trang huyết sử trong mối bang giao của hai nước đã xuất hiện. Sau khi thành Ung Châu bị hạ. Lý Thường Kiệt ra lệnh giết hết nhân dân trong thành. Cuộc công thành đẫm máu đó diễn ra suốt hơn 1 tháng. Thời điểm hạ thành Ung Châu cũng cùng với lúc Đại Tống đưa quân tiến về phía Nam tiếp cứu.

***

Trước khi rút về, Lý Thường Kiệt liền lấp sông Ung Giang – là tuyến đường thủy huyết mạch của nhà Tống. Sau đó dùng kế dương đông kích tây khi phao tin là sắp đem quân đánh Tân Châu. Thám tử Đại Việt được cải trang thành nạn dân. Cho quân đốt trại, thiêu hủy lương thực, phá thành, mang của cải tù binh rút về nước.

Nguyên một vùng Quảng Tây te tua xác xơ, thống kê 10 vạn người chết sau cuộc chiến này. Cái thòng lọng mà nhà Tống định xiết cổ quân ta đã đứt thẳng cẳng.

Xin dừng ở đây để nói cho mấy đồng chí “cải lương” biết điều này. Trong chiến tranh, “Địch sống thì ta chết”, nếu bạn cải lương thì đừng có đọc lịch sử rồi thốt lên “Ôi, ông cha ta tàn bạo quá, ứ thích đâu”. Chính trị đừng nói chuyện nhân đạo. Hoặc “Cha ông tàn bạo hèn gì ta nghèo”. Nếu vậy không hiểu sao thằng Đức, thằng Nhật nó giàu. Chuyện giàu nghèo liên quan đến tầm nhìn lãnh đạo, hoặc hoàn cảnh đất nước, hoặc các nguyên nhân khách qua hay chủ quan chứ không liên quan đến lịch sử chiến tranh. Chân thành nhé, nếu Lý Thường Kiệt không ra tay trước, thì Thăng Long thành chính là Ung Châu, tất cả người dân bị giết và bị bắt. Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô Đại Cáo từng nói “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/Vùi con đỏ xuống hầm tai họa” Đó là khi nhà Hồ mất nước để nhà Minh chiếm mất Thăng Long.

Đại Việt đã bị một cái dây thòng lọng xiết vào, và bạn hoặc chấp nhận bị treo cổ lên (vì quá “cải lương”), hoặc vùng lên mà đấm cái thằng đang thắt cổ bạn.

NHÀ TỐNG PHẢN CÔNG

Để nói về cái khủng khiếp khi nhà Tống phản công Đại Việt, ta cần chú ý 2 điểm: nhân lực và vật lực. Quách Quỳ - một tướng giỏi nhà Tống được điều từ mặt trận biên giới với Đại Liêu về cầm quân đánh Đại Việt. 10 vạn quân được điều động. 20 vạn dân phu góp mặt. Và 5 triệu lạng vàng được nhà Tống tung vào chiến trận.

Xem ra nhà Tống đã rất đánh giá Đại Việt ta khá cao đấy.

Bây giờ, đến lượt các bạn sống bên bờ sông Cầu giơ tay lên. Sân khấu sắp tới là của các bạn.

Quách Quỳ quả nhiên là tướng giỏi, tất cả mọi phòng thủ của Lý Thường Kiệt để lại từ Quảng Tây cho tới biên giới phía Bắc, Quách Quỳ đều vượt qua. Đồng chí này đánh một lèo từ biên giới và chỉ dừng lại ở sông Như Nguyệt. Sông Như Nguyệt chính là sông Cầu thuộc hệ thống sông Thái Bình hôm nay. Như vậy, Quách Quỳ chỉ cách Thăng Long 20km. Chẳng khác gì chuyện Hitler đứng ở ngay cửa ngõ Maxcova tại thế chiến thứ 2.

Tuy nhiên, bằng cách tấn công nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã đem tới 3 điểm:
  • Tạo thế chủ động cho nhà Lý thay vì ngồi đợi thòng lọng
  • Khiến giặc nôn nóng báo thù và đưa quân mỏi mệt từ phương xa đến. Qua đó nhà Lý lấy quân nhàn đánh quân mệt mỏi đúng binh pháp.
  • Khiến hậu phương của giặc bị phá thủng. Chướng ngại vật được tạo ra suốt tuyến biên giới giúp kéo dài thời gian để chuẩn bị kỹ càng tuyến phòng thủ tiếp đón quân Tống (hừ, câu này mà thi đại học hay tốt nghiệp thì nhớ trả công cho tôi đấy).
  • Do đó khi Quách Quỳ có mặt ở sông Cầu thì tình thế của ông ta cá nằm trên thớt thôi. Lý Thường Kiệt đã bày sẵn “thiên la địa võng” đợi rồi.
Bạn biết trong binh pháp, điều gì quan trọng nhất với quân viễn chinh không? Đấy là lương thảo. Lý do quân Tống mới sử dụng tới 20 vạn dân phu cho 10 vạn quân viễn chinh là vì vậy.

Lý Thường Kiệt nhìn ra được điều này, ông biết rõ phòng tuyến biên giới không ngăn được kỵ binh Tống, cho nên khi phò mã Thân Cảnh Phúc được giữ biên giới. Ông đã dặn dò về việc tập hậu. Đêm đêm tập kích vào dân phu, cướp lương thực, đồng thời đánh “bọc hậu” các nhóm nhỏ từ phía sau. Thời gian càng kéo dài, lương thực vận chuyển càng khan hiếm, quân Tống lâm vào tình thế đói khát.

Nói thì dễ nhưng làm thì hơi bị khó. Quân ta mấy trận đầu bị thua chạy tan tác. Ví dụ : nếu sau này Lê Lợi chém được Liễu Thăng ở ải Chi Lăng thì Quách Quỳ lại nhìn ra được cái hiểm yếu của ải Chi Lăng mà đi đường vòng, đánh tạt sườn vào quân Đại Việt khiến quân ta thua to phải bỏ chạy (Bỏ chạy nhé chứ không phải rút lui chiến thuật như các bác SGK viết đâu). Tuy nhiên, phò mã Thân Cảnh Phúc cũng đã thoát kịp, và từ đó bắt đầu cướp phá lương thực từ phía sau, đẩy đại quân Quách Quỳ vào thế “sống dở chết dở”. Người phò mã áo chàm này sau đó đã chết trong trận chiến ở Bắc Giang.

Khi Quách Quỳ tiến vào cửa sông Như Nguyệt. Ông ta chính thức đối đầu với Lý Thường Kiệt. Lúc này thái úy của chúng ta đã 58 tuổi. Đúng chất lão tướng ra trận. Hai bên bắt đầu dàn trận.

Quách Quỳ ban đầu giữ thế thủ, ông ta đợi thủy quân tập kích cùng. Nhưng ông ta đã quên mất một điều: luận về thủy quân, nhà Tống chỉ bằng cái móng tay út so với Đại Việt. 2 tháng trước khi Quách Quỳ tới Như Nguyệt. Thủy quân Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị Lý Kế Nguyên – đô đốc thủy sư quân ta đuổi chạy như vịt về tận Trung Quốc rồi (Tôi nói thật chỗ này, tôi rất đau lòng khi đồng chí Schooling của Singapore giành HCV Olympic đợt vừa rồi. Luận về nghề sông nước, dân tộc ta mới là số 1 Đông Nam Á).

Không cần nói nhiều về thủy quân, đơn giản nhắc tới thủy quân thời phong kiến: Việt Nam vô đối.

Quay lại mặt trận chính, nơi Quách Quỳ đối đầu Lý Thường Kiệt.

Chờ mãi không thấy quân thủy tới, biết là bị đuổi chạy mất rồi. Quách Quỳ đành tấn công. Quân viễn chinh đi xa không cầm cự được. Quân Tống bắc cầu phao vượt sông.

Lý Thường Kiệt liền mai phục:
  • Lý Thường Kiệt cứ cho nó vượt, sau khi quân Tống vào được một lực lượng hòm hòm thì quân Lý ba mặt ào ra tấn công.
  • Hai mặt tạt sườn vào, xé lẻ quân địch ra. Chém giết đã tay. Giống như chui vào cái hòm nạp mạng vậy.
  • Quân phía sau quay lưng bỏ chạy. Nhưng chết nỗi. Bên kia sợ Lý Thường Kiệt vượt sông đốt trại nên chặt phao mất rồi. Thế là mấy anh kia nhảy xuống sông hết.

Rút kinh nghiệm, Tống đánh lần tiếp không xài cầu phao nữa mà xài bè. Từng đoàn kéo qua, đánh hỏa tiễn ầm ầm. Nhưng thế phòng thủ của Như Nguyêt chắc như bắp. Bè nào qua thì “thịt” bè nấy. Chưa kể đêm đêm, bài hùng ca

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan hủ bại hư

Cứ vang lên ở đền Trương Hống, Trương Hát làm sĩ khí ta tăng cao còn sĩ khí địch run sợ vì tưởng đó là mệnh trời.

Người văn võ song toàn như Lý Thường Kiệt thật hiếm thấy !

Quách Quỳ thiếu lương thực, chỉ mong đánh lớn một trận cho bõ. Nhưng Lý Thường Kiệt án binh bất động không ra, vì ông đợi cho quân Quách Quỳ hết lương, dịch bệnh đeo bám. Không phải, tiêu vong sinh lực địch chỉ một phần. Bởi ông sắp đặt một âm mưu khác ghê gớm hơn nhiều.

Tháng 2/1077, thủy quân Đại Việt tràn lên bờ, đánh chiếm núi Nham Biền rồi đổ bộ xuống quân Tống. Một cuộc giao tranh ác liệt diễn ra, Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang chống đỡ. Hai bên tiêu hao nặng. Nhưng Quách Quỳ, Triệu Tiết không hề biết rằng đó chỉ là nghi binh.

Đêm ấy, lợi dụng quân Triệu Tiết mệt mỏi và không đề phòng. Lý Thường Kiệt vượt sông Như Nguyệt, đánh một trận khủng khiếp trong đêm. 5 vạn quân viễn chinh của Tống bị diệt trong đêm đó.

Quách Quỳ từ 10 vạn còn lại hơn 3 vạn thoi thóp như cá nằm trên thớt đợi Lý Thường Kiệt qua mổ xẻ.

Chúng ta tạm thời dừng phòng tuyến Như Nguyệt ở đây để về hỏi thăm sức khỏe hai anh Chân Lạp và Cham Pa. Các bạn xem Tam Quốc Diễn Nghĩa biết rồi: 2 đồng chí này tựa tựa Đông Ngô đấy, mang danh thì nhận lời nhưng lại ở tư thế “đục nước béo cò”, xem hai ông anh này ai thắng ai bại thì mới điều quân. Nếu Tống thắng thì nhân đó tấn công lấy đất. Nếu Tống thua thì cũng ko khiến Đại Việt mất lòng. Nhưng thời gian càng dài thì sự uy hiếp sẽ càng lớn dần. Bởi chủ lực Đại Việt không nằm ở phía Nam. Nếu quân Đại Việt tiếp tục đánh với Quách Quỳ, tình trạng “lưỡng bại câu thương” sẽ xảy ra, đến khi quân ta đuổi được Quách Quỳ đi thì cũng không còn sức xuống phía Nam nữa.

Nhưng nếu nghị hòa với Quách Quỳ thì lại khác. Nó sẽ đẩy đến việc làm cho Chân Lạp và Cham Pa phải rợn người vì điều đó cho thấy Tống đã bỏ đồng minh, và Đại Việt vẫn quá mạnh, lại đủ thì giờ để bảo vệ biên giới.

Lá thư nghị hòa được gửi qua, nhà Tống mừng như bắt được vàng. Giao kèo được ký kết, ta lấy lại được đất. Một lá thư, yên cả mạn Bắc và mạn Nam.

Năm 1077, Lý Thường Kiệt đại phá quân Tống, làm câm lặng Champa. Người là anh hùng xứng danh nhất thế kỷ XI.

Lời kết:

Ngô Tuấn Lý Thường Kiệt, bạn hãy nhớ về cái tên ấy, ngàn đời lịch sử dân tộc rất nhiều anh hùng. Nhưng vị anh hùng bản lĩnh đến mức đem quân sang Bắc đánh giết thì không có mấy người dám nghĩ, lại càng không mấy ai dám làm. Con người ấy, không chỉ có tài năng thống lĩnh ba quân, mà còn có khả năng thơ phú, văn học để khích lệ tướng sĩ. Một hoạn quan mà toàn vẹn hơn vô vàn triệu triệu người, bởi sự toàn vẹn BÌNH NAM VÀ DẸP BẮC của mình.

Xuyên suốt luôn biết đặt đại cục lên đầu. Khi uyển chuyển, khi mạnh bạo, khi hòa hoãn, khi tấn công. Một đời anh hùng đó, đáng để hậu thế cúi rạp người học hỏi và ngưỡng mộ.

Lý Thường Kiệt :: Một đời bi thống - một đời anh hùng

Cuộc đời bi thống của người anh hùng "Phá Tống Bình Chiêm"

Đây là bài viết của bạn Dũng Phan trên page "The X file of History" về Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt.

Page "The X file of History" là một page rất hay trên Facebook (tốn của tui kha khá thời gian), nhưng bực nhất là các bài thường post theo kiểu mô tả ảnh nên khi xem lại thì chữ đọc rất khó chịu, thế nên copy ra đây để đọc lại cho dễ dàng.

Và để tham gia bình luận trao đổi, mời vào trực tiếp tại page "The X file of History".




VIỆT QUỐC CÔNG LÝ THƯỜNG KIỆT

NGƯỜI ANH HÙNG "PHÁ TỐNG BÌNH CHIÊM", MỘT CUỘC ĐỜI BI THỐNG

Tôi sẽ bắt đầu bằng một nhận định. Các bạn hãy nhớ nhận định này, và hiểu thêm về lịch sử dân tộc. Lịch sử dân tộc này có 2 vị hoạn quan đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong dòng chảy của đất nước, đây là hai người anh hùng đã bẻ lái lịch sử. Là khai quốc công thần sáng lập triều đại, là người anh hùng trị nước, là đại tướng quân đánh dẹp. Người đầu tiên là tả quân Lê Văn Duyệt – khai quốc công thần nhà Nguyễn, người đánh bại Tây Sơn trên đầm Thị Nại, vị tổng trấn đã tạo nên bộ mặt của Gia Định ngày đầu, nền tảng cho Sài Gòn - TP. HCM của ngày hôm nay. Và người thứ hai, vị anh hùng đánh giặc xâm lăng của dân tộc: Thái Úy Lý Thường Kiệt.

Bây giờ, ta sẽ nói một chút về đề tài hoạn quan. Quan điểm của chúng ta về hoạn quan thời phong kiến đôi khi lệch lạc, một phần chính vì các bộ phim truyền hình Trung Quốc mà ta hay được xem. Đó hoặc là những kẻ bệnh hoạn, những kẻ tham ô, hoặc những kẻ nhũng loạn triều chính người người đòi tru diệt. Đấy là Triệu Cao, là Thập Thường Thị, là Ngụy Trung Hiền…

Hoạn quan Việt Nam thì sao? Cũng như nhiều nhân vật lịch sử thời nhà Nguyễn. Lịch sử chúng ta đã lãng quên nhiều vị hoạn quan rất giỏi. Ngoài hai người uy vũ văn võ song toàn Lê Văn Duyệt và Lý Thường Kiệt ở trên. Hôm nay, tôi sẽ cho các bạn hai cái tên nữa. Một người là kiến trúc sư, và người kia uy vũ chẳng kém Lý Thường Kiệt hay Lê Văn Duyệt, nhưng đã rớt lại trong dòng chảy dân tộc.

1- Nguyễn An: tôi không bất ngờ nếu các bạn tròn mắt “Ủa ai đây? Nghe lạ hoắc vậy ta?” Nếu tôi có chút quyền trong tay, tôi cho cái tên này trở thành “Ông tổ của Kiến trúc sư Việt Nam” không chừng. Nhưng mà chắc không đâu. Bởi điều ta tự hào tới đây mang tính chất “gốc Việt” nhiều hơn là tính chính thống.

Người mà các bạn vừa phát âm ra đấy chính là vị TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ đã xây dựng TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH dưới thời Minh Thành Tổ. Khi các bạn qua du lịch Trung Quốc hay các bạn du học sinh Việt Nam ở Trung Quốc. Các bạn hãy nhớ rằng, cửa Chính Dương, còn gọi là Tiền Môn, ở phía Nam quảng trường Thiên An Môn hiện tại chính là do ông xây dựng. Quốc Học (Quốc tử giám) giờ là thư viện Bắc Kinh cũng do ông xây nên. Bắc Kinh hôm nay có dấu ấn của người Việt ta.

Kiến trúc sư Nguyễn An quê gốc Hà Đông (Hà Nội ngày nay). 16 tuổi tham gia thi công thành Thăng Long. 26 tuổi, khi đất nước bại trận trước nhà Minh. Ông và hàng trăm chàng trai trẻ, những nhân tài của đất nước này bị Trung Quốc hốt về và bị thiến để làm hoạn quan (Cái nhục mất nước nó ghê gớm lắm). Dù làm hoạn quan, nhưng đức tính khiêm tốn, thanh liêm, và biệt tài tính toán đã giúp ông lọt vào mắt xanh của Minh Thành Tổ. Và tài năng kiến trúc ấy đã nở rộ như mặt trời chính ngọ.

Sau này, nhà sử học Trung Quốc là Trương Tú Dân còn phải viết ra “An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên."

Và ông là người Việt Nam bị bắt làm tù binh.

2- Hoàng Ngũ Phúc: Ai là người đã khiến cho Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ phải sợ hãi một phép? Ai là người khiến cho Tây Sơn phải dùng bạc vàng xin hàng để tránh họa tiêu diệt? Ai là người đầu tiên vượt qua Lũy Thầy Đào Duy Từ nổi tiếng để vượt qua sông Gianh tiến vào địa phận của chúa Nguyễn? Câu trả lời chính là Hoàng Ngũ Phúc – vị đại tướng số 1 của Chúa Trịnh. Và ông cũng là một hoạn quan. Hoàng Ngũ Phúc là một cái tên đã bị rớt lại trong dòng chảy của dân tộc. Dù võ nghệ của ông, mưu kế, tính thanh liêm, sự trung thành của ông là đáng để ngã mũ.

Tôi xin dừng lại ở Hoàng Ngũ Phúc rất ngắn ngủi. Ấy không phải là vì không thể viết hết ý. Mà để dành cho các bạn một bài viết xứng đáng hơn đang đợi các bạn ở tương lai gần trong page "The X file of History" này. Hãy quay lại một ngày, và đọc về vị tướng quân đầu tiên vượt qua Lũy Thầy Đào Duy Từ này.

***

Tôi đã bắt đầu bài viết bằng những câu chuyện về hoạn quan, để nói với các bạn 2 điểm:

  1. Đầu tiên, để bạn xem chuyện hoạn quan lập nên kỳ công cho đất nước này là một chuyện hiển nhiên, hạn chế những cmt về ông như thể là phát hiện mới (điều tôi đã gặp rất nhiều ở bài viết Lê Văn Duyệt trước đó). Đấy là điểm đặc biệt của lịch sử Việt Nam. Những người hoạn quan công lao rất lớn và đều vì dân vì nước.
  2. Thứ hai, hãy nhớ để tự hào: rằng ngoài những trang sử vẻ vang chống giặc ngoại xâm, ta đã có những con người tài giỏi thế nào, hơn người thế nào, dù họ khiếm khuyết. Hoạn quan của ta không phá bậy phá bạ như hoạn quan Trung Quốc. Mà ngược lại, còn xây dựng đất nước. Cũng như trong thế giới hiện đại bây giờ. Những người khiếm khuyết đôi khi toàn vẹn hơn nhiều lần những người bình thường khác.

***

Bây giờ, ta hãy đến với nhân vật chính của bài viết, câu chuyện về Thái Úy Lý Thường Kiệt.

ĐỜI TƯ

Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, ông vốn thuộc họ Ngô, tên thật là Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban quốc tính (được mang họ nhà vua), nên gọi là Lý Thường Kiệt. Họ Ngô chắc khiến bạn có chút liên tưởng, không sai chút nào. Ngô Tuấn chính là cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập–hoàng tử trưởng của Ngô Quyền: người anh hùng đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc. Dòng họ Ngô đã sinh ra hai người anh hùng ở hai thế kỷ khác nhau đánh tan quân xâm lược phương Bắc.

Đây ta tạm gọi là “hổ tổ sinh hổ chắt”.

Các bạn mang họ Ngô hãy tự hào về hai vị anh hùng của mình nhé.

Ngô Tuấn dung mạo đẹp đẽ, khôi ngô, và từng được phong “Đệ nhất mỹ nam tử” thời bấy giờ. Không chỉ có vẻ ngoài, Ngô Tuấn còn là một người thông minh và ham học hỏi. Văn võ song toàn. Đọc binh pháp Tôn Tử từ nhỏ, lại giỏi bắn cung, cưỡi ngựa. Tuổi trẻ tài cao như thế, lại thêm vẻ ngoài tuấn tú. Một người có thể coi là hoàn hảo. Đúng là “tài hoa chi lắm cho trời đất ghen”. Một người hoàn hảo như thế lại trở thành hoạn quan?

Câu hỏi này sẽ là nghi vấn ngàn đời.

Bài viết hôm nay của tôi sẽ là một cách nhìn mới được kiến giải qua những phân tích sự kiện đã có với hiểu biết cá nhân.

Ngô Tuấn thời trẻ có một mối tình oan nghiệt với một người con gái tên là Dương Hồng Hạc - mỹ nhân thuộc dòng họ Dương. Người sau này trở thành hoàng hậu Thượng Dương. Mối tình đó không thể đi đến cuối cùng, vì Dương Hồng Hạc được gả cho thái tử Lý Nhật Tôn.

Thời đầu phong kiến Việt Nam có hai dòng họ lớn, đấy là họ Dương và họ Ngô. Mối uyên nguyên từ Ngô Quyền – Dương Đình Nghệ vào thế kỷ IX kéo dài đến Ngô Tuấn – Dương Hồng Hạc của thế kỷ XI. Nhưng Ngô Tuấn không có cái quyền nghiêng trời lệch đất như Ngô Quyền để quyết định cho vận mệnh của mình. Sự chấm dứt mối tình với hoàng hậu Dương Hồng Hạc đã dẫn đến một bi thương về đợt “hoạn quan” sau này của ông. Dương Hồng Hạc không được Lý Thánh Tông để ý, và bà muốn Lý Thường Kiệt có tác động trong cuộc “thâm cung nội chiến” này. Đứng giữa tình thế hung hiểm như vậy. Lý Thường Kiệt bắt buộc phải lựa chọn. Đi sai một bước thì lưỡi gươm của cả hoàng thượng và hoàng hậu đều có thể đặt lên đầu ông.

Việc ông trở thành hoạn quan có thể nói là bởi vì ông không muốn trở thành cái gai trong mắt hoàng thượng, cũng là lời cáo chung đầy bi thống của ông đối với Dương Hồng Hạc, và hơn cả, là lời khẳng định rõ ràng nhất xin đứng ngoài cuộc trong câu chuyện tình yêu và mối quan hệ lằng nhằng chốn hậu phi này.

Cho dù cái giá phải trả là đắt, quá đắt !

Đấy là lý do tại sao một chuẩn tài mạo song toàn, dung mạo tựa ngọc như Lý Thường Kiệt lại trở thành hoạn quan. Bởi vì sinh mệnh của bản thân và cái chí lớn chưa làm gì nên sự nghiệp, không thể chết vì một mối tình thời niên thiếu trong cuộc chiến chốn quan trường và chốn hậu cung.

Sự sủng ái mà thái tử Lý Nhật Tôn (sau này là vua Lý Thánh Tông) đã dành cho ông như một sự bù đắp lớn lao cho cái hy sinh khủng khiếp ấy của người đàn ông văn võ song toàn, dung mạo đẹp đẽ đó. Không chỉ được đổi thành họ Lý mà các chức danh cao quý nhất đã lần lượt đến với Ngô Tuấn. Và Lý Thường Kiệt đã đáp lại bằng trí tuệ và võ lược của mình để giữ vững cho thiên hạ nhà Lý.

Một bằng chứng nữa, khi vương phi Ỷ Lan và hoàng hậu Thượng Dương có cuộc đấu đá cho vị trí nhiếp chính. Lý Thường Kiệt đã chọn Ỷ Lan. Điều này cho thấy tâm tư cẩn mật của ông là ra sao, và tầm nhìn của ông. Nên nhớ khi ấy Thượng Dương Hoàng Hậu có sự ủng hộ của thái sư đầu triều Lý Đạo Thành. Tư duy chính trị nhạy bén ấy là lý do cho ông trở thành vị quan đầu triều nắm giữ mọi chức vị quan trọng và luôn được tín nhiệm. Tầm nhìn của ông, mọi nước cờ đều là lựa chọn không chỉ đặt đại cuộc lên hàng đầu mà còn giữ cho ngày ông mất, là mồ yên mả đẹp.

Ngô Tuấn Lý Thường Kiệt là một vĩ nhân, bởi chỉ có vĩ nhân trăm năm có một người như thế, mới đánh đổi được và làm được những điều thống thiết đến như vậy, bi tráng đến như vậy, và tạo nên sự nghiệp anh hùng ngất trời mà ta sẽ biết sau bài này.

VÕ LƯỢC

Có lẽ khi chúng ta được dạy về Lý Thường Kiệt, các bạn thường nghe kể về kỳ tích đánh Tống và bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”. Tôi sẽ không bắt đầu bằng câu chuyện ấy, tôi sẽ dẫn dắt các bạn đến với câu chuyện về kỳ tích khác của vị tướng uy vũ này. Đấy là “Bình Chiêm”.

Vào năm 1069, lãnh thổ đất nước ta kéo dài đến tỉnh Hà Tĩnh là dừng lại. Đấy là lãnh thổ của Đại Việt. Lãnh thổ của Chiêm Thành kéo dài từ Quảng Bình cho đến Ninh Thuận bây giờ. Tôi dùng địa danh hôm nay nên chắc các bạn mường tượng ra rồi.

Thời điểm đó, Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và ra lệnh cho Chiêm Thành phải thần phục. Vua Chiêm khi đó là Chế Củ thay đổi chính sách ngoại giao và muốn thần phục nhà Tống, dựa vào nhà Tống để chống đối Đại Việt.

Vua Lý Thái Tông không chấp nhận điều ấy, quyết định Nam Tiến. Đại tướng tiên phong Lý Thường Kiệt từ Thăng Long đi đường thủy, dẫn 5 vạn quân với 2000 chiến thuyền bằng mọi giá phải khiến Chiêm Thành thần phục. Tại nơi đây, ta được chứng kiến cảnh "hổ vào chuồng dê". Quân Chiêm Thành không có ai đáng là đối thủ của Lý Thường Kiệt, thế của ông như chẻ tre, đánh đâu thắng đấy:

  • Ngày 24/2/1069, vua Lý Thánh Tông hạ chiếu tấn công Chiêm Thành.
  • 10 ngày kể từ khi rời Thăng Long, đưa quân vào hải phận Chiêm Thành.
  • Sau 15 ngày, Lý Thường Kiệt có mặt tại cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình ngày này). Dừng ở đây một chút nhé. Bạn có thấy hành quân thần tốc không? Đã nắm sử thời nhà Lý ở đây, bạn sẽ dễ dàng hiểu về cuộc hành quân của vua Quang Trung. Lý do vì sao ông có thể hành quân nhanh như thế để ra tiêu diệt Tôn Sĩ Nghị, cũng chính từ đường thủy mà ra.
  • Cửa Nhật Lệ là nơi tập trung của thủy quân Chiêm Thành. Một cuộc đụng độ xảy ra, Lý Thường Kiệt dễ dàng bẻ gãy tuyến phòng thủ thứ nhất của Chiêm Thành.
  • Sau 19 ngày, quân Đại Việt đã kéo tới Quy Nhơn. Tướng Chiêm là Bố Bì Đà La dàn trận trên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Vào trận, sau vài nốt nhạc. Lý Thường Kiệt chém đầu tướng Chiêm là Bố Bì Đà La rồi vượt qua sông Tu Mao, thẳng tiến đến kinh đô Chiêm Thành. 26 ngày để từ kinh đô nước mình qua kinh đô nước bạn. Trước Quang Trung và Lê Trọng Tấn, đấy là Lý Thường Kiệt.
  • Vua Chế Củ trong đêm mang vợ con chạy trốn. Lý Thường Kiệt hạ gục Chiêm Thành. Trong vòng 1 tháng, đuổi Chế Củ ra tới tận biên giới Chân Lạp. Và bắt sống tại biên giới. Khi đó là vào tháng 4.
  • Tháng 7, đoàn quân Nam Chinh chiến thắng trở về. Vua Chế Củ và toàn gia bị bắt sống. Để xin toàn mạng. Chế Củ xin cống nạp cho Đại Việt ba châu: Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý. Bạn biết đó là vùng đất nào không? Đấy là Quảng Bình và Quảng Trị hôm nay. Có lẽ đọc đến đây, mình đã cho các bạn miền trung biết thêm một chút lịch sử của quê hương các bạn rồi đấy.


35 năm sau, người kế thừa ngôi báu của Chiêm Thành là Chế Ma Đa quyết định đòi lại đất của tổ tiên. Ông mở đợt phản công nhắm về Đại Việt và lấy lại 3 vùng đất ấy. Lý Thường Kiệt buộc phải ra tay. Năm ấy, vị tướng già của chúng ta đã 85 tuổi. Lý Thường Kiệt là vị tướng quân có tuổi thọ cao bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Ông làm quan trải qua ba đời vua nhà Lý, gồm Lý Thái Tông : 1028-1054 , Lý Thánh Tông : 1054-1072 và Lý Nhân Tông: 1072-1127.

Lại một lần nữa, ông đánh tan quân Chiêm Thành. Buộc Chế Ma Na phải trả lại 3 vùng đất đã được lấy đi.

Với nền tảng nhà Lý đặt ở thế kỷ XI trên bệ phóng là mưu lược cầm quân của Lý Thường Kiệt. Các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn sau này dần dần tạo nên đất nước hình chữ S như ngày hôm nay. Tất cả mọi sự đều bắt nguồn từ quân trạng của Thái Uý Lý Thường Kiệt.

***

Câu chuyện hôm nay để hiểu về con đường mà cha ông ta đã từng đi. Hãy góp phần bảo vệ quê hương, đấy là vùng đất cha ông ta đổ xương máu để giành được. Lịch sử luôn công bằng, lịch sử sẽ hỏi ta rằng, đất không phải là ta giành được, đất là do cha ông đổ máu mà có, thế hệ sau hãy phát triển hoặc giữ gìn mảnh đất chứ đừng phá công sức của cha ông.

Nếu hôm nay phá hoại tấc đấc của cha ông, ngày xuống suối vàng, trả lời sao với tiền nhân đây?

(Hết phần 1: “BÌNH CHIÊM”. Đón đọc Phần 2: “PHÁ TỐNG”)

Tả quân Lê Văn Duyệt - Ta đã lãng quên ai?

Đây là bài viết của bạn Dũng Phan trên page "The X file of History" về một khai quốc công thần của vua Gia Long: Tả quân Lê Văn Duyệt

Page "The X file of History" là một page rất hay trên Facebook (tốn của tui kha khá thời gian), nhưng bực nhất là các bài thường post theo kiểu mô tả ảnh nên khi xem lại thì chữ đọc rất khó chịu, thế nên copy ra đây để đọc lại cho dễ dàng.

Và để tham gia bình luận trao đổi, mời vào trực tiếp tại page "The X file of History".




Hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về người giỏi nhất dưới trướng của vua Gia Long: tả quân Lê Văn Duyệt. Về cái cách ông đã xây dựng một vùng đất, cho người dân sống trong hạnh phúc, an lành. Lịch sử thời bình, cần những bài học về những con người như thế này.

Ông đã bị lãng quên, sự lãng quên của sử sách dành cho ông khiến những người có tâm với lịch sử phải đau lòng. Lê Văn Duyệt, hãy nhớ tên vị tả quân này. Bởi 3 thế kỷ trước, vào buổi đầu sơ khai của lịch sử vùng đất Nam Kỳ. Ngài đã một tay gây dựng cơ đồ, tạo nên nền tảng giàu mạnh cho vùng đất phía Nam đất nước ngày nay, với Gia Định – SaiGon là trung tâm.

***
Ta sẽ bắt đầu bằng một câu chuyện:

Năm 1807, Lê Văn Duyệt nhận lệnh vua đi dẹp loạn Mọi Vách Đá. Thay vì thẳng tay đàn áp quân khởi nghĩa, tả quân Lê Văn Duyệt ra lệnh chém đầu chưởng cơ Lê Quốc Huy, tên đại thần tham nhũng, tàn ác, nguyên nhân chính khiến người dân bất mãn với triều đình và hình thành nên cuộc khởi nghĩa.

Tôi tin rằng khi kể câu chuyện này, rất ít người được nghe. Lê Văn Duyệt đã làm một việc mà trước giờ không ai làm. Hành động xuất phát từ lòng thương dân và sự căm ghét những kẻ tham nhũng, tàn hại dân. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra, triều đình đưa quân đến dẹp. Nhưng chưa bao giờ nghĩ ngược lại: nếu dân không bị đàn áp, bị bóc lột, thì dân khởi nghĩa làm cái gì? Hành động của Lê Văn Duyệt lập tức có đáp án: chỉ một năm sau khi chém Lê Quốc Huy, Mọi Vách Đá tự động tan rã.

Năm 1819, khi đi thị sát hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An. Hai vùng đất nổi tiếng nhiều nhân tài nhưng cũng lắm kiêu binh. Lê Văn Duyệt thẳng tay trừng trị những kẻ tham quan ô lại ở trong vùng, vỗ yên dân chúng. Mọi ý đồ nổi loạn chấm dứt.

Kẻ thù không bao giờ là dân. Kẻ thù là những con sâu đục khoét bên trong.

Vào cái giai đoạn mà nhà Nguyễn có một sự đề phòng nhất định cho Cơ Đốc Giáo cũng như “bế quan tỏa cảng” thì ở Gia Định – Chợ Lớn điều này không hề xảy ra. Lê Văn Duyệt đã tạo nên một vùng đất trong mơ với bàn tay giang rộng đón mời tất cả, không phân biệt nghèo hèn, tôn giáo, sắc tộc. Khi 2 giáo mục bị Minh Mạng bắt giữ, chính Lê Văn Duyệt đến tận nơi xin thả người. Chợ Lớn chính nhờ nền tảng của ông mà phát triển đến tận ngày nay. Các dân tộc Hoa, Việt, Ấn, Miến Điện, Chiêm Thành, Vạn Tượng ... đều đoàn kết và yêu thương nhau. Nếu nhà Nguyễn “bế quan tỏa cảng” thì Gia Định lại mở rộng cửa cho thuyền vào, Lê Van Duyệt đã nói “Cái nhà đóng cửa cài then thì sao gió vào được. Gió không vào được thì sao người khỏe được.” Ông khuyến nông, trọng thương biến vùng đất trở nên giàu có vô cùng, và được cai quản bằng sự thượng tôn pháp luật. Con kênh Vĩnh Tế được xây dựng, nói theo ngôn ngữ hiện đại của dân xây dựng: nếu Thoại Ngọc Hầu là chỉ huy trưởng, thì Lê Văn Duyệt là trưởng ban quản lý dự án của công trình. Bằng một cái tầm của một bậc vĩ nhân đã xây nên con kênh quan trọng nhất thời phong kiến Việt Nam không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà cả kinh tế.

Chứng kiến những điều ấy, cụ Phan Thanh Giản đã nói “Gia Định thật có phúc khi có được một tổng trấn như đại quan.”

Những gì tả quân Lê Văn Duyệt làm đôi khi ngược hẳn với chính sách ở Phú Xuân – Huế. Nhưng ông vẫn làm bởi sau lưng của ông là dân, vì dân mà ông làm, chứ không phải vì cá nhân nào cả. Ông làm cho người dân được no đủ. Với ông, thế là đủ. Nhưng sau này ông mất đi, Minh Mạng đã phủ nhận ông. Con trai nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã vì đè nén mà đứng khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa bị chìm trong bể máu (chúng tôi sẽ có 1 bài dành cho chuyện này sau).

Tả quân sẵn sàng khoan dung với giặc nếu kẻ thù có lòng hối cải, nhưng nếu chống lại thì ông thẳng tay trừng trị cực kỳ tàn bạo. Ông đặt thượng tôn pháp luật lên hàng đầu. Kẻ ăn năn thì tiếp nhận, kẻ ngoan cố thì lãnh đòn.

Năm 1822, một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu đã đến Gia Định. Sau này trong hồi ký của mình, Crawfurd đã viết những dòng sau về Gia Định thế kỷ 19.

Tôi bất ngờ thấy rằng nó (thành Gia Định) không thua gì kinh đô nước Xiêm. Tôi có cảm giác rằng đây là một vùng đất lý tưởng.
Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có, người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp nếu chúng ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với kẻ không quy phục triều đình. Chưa ở đâu, kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày, một đứa con vô lễ chửi mẹ mà tổng trấn biết được, ngài phạt cực nặng.

Đối lập với Bắc Kỳ và Trung Kỳ đang vất vả. Gia Định thành ngày đó là thiên đường của người Việt.

Nhưng vì sao ông bị phủ nhận? Vì ông bị vua Minh Mạng thanh trừng? Hay vì ông là người theo phò Nguyễn Ánh, đánh Tây Sơn?

Dù lý do nào đi nữa, sự phủ nhận và sự thiếu vắng tên ông thời điểm bây giớ cũng khiến những người có tâm với sử nhà đau lòng.

Chúng ta luôn nói về chống tham nhũng. 200 năm trước, tả quân sau khi chém đầu Huỳnh Công Lý – cha vợ nhà vua vì tham nhũng (đừng tưởng Việt Nam không có Bao Công nhé). Ngài đã dâng tấu cho Minh Mạng, nội dung bản tấu như sau: “Chống tham nhũng như chống mối, phải chống từ nóc chống xuống. Đám quan tham nhũng như bầy mối. Mối càng to, đục khoét càng dữ. Không diệt trừ tận gốc thì nhà sập. Lúc ấy bệ hạ và quần thần muốn đỡ cũng đỡ không nổi đâu”

Tiếng lòng ấy 200 năm sau vẫn còn nguyên giá trị !

Tôi xin kết bài này bằng một câu trong báo An Ninh Thế Giới, số 3 - tháng 3/2008: "Lịch sử phức tạp có thể mang định kiến, chủ quan và sai lầm. Nhưng lòng dân thì luôn sáng suốt và giản dị, ai thương dân, đó là người yêu nước. Những con người như thế vẫn luôn được dân xem như những bậc anh hùng. Đền thờ ông được dựng nhiều nơi"

-----------------------
  • Nếu có dịp, ghé qua Bình Thạnh, bạn sẽ được nghe về cái tên “Lăng Ông Bà Chiểu”. Đấy chính là lăng của tả quân Lê Văn Duyệt. Rất đẹp và sừng sững còn mãi với thời gian. Và mình cho các bạn ở TPHCM thêm một kiến thức lịch sử nữa: đường Cách Mạng Tháng 8 trước 1975 là đường Lê Văn Duyệt. 
  • Một số dẫn chứng được tham khảo từ cuốn sách "Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ" của "Tạp chí xưa và nay".
  • Thông tin tham khảo thêm tại Wikipedia (bản tiếng Việt)
Tranh Tả Tướng Quân Lê Văn Duyệt do Viet Toon vẽ miêu tả lại cảnh ông đốc thúc đắp kênh Vĩnh Tế